Hiển thị các bài đăng có nhãn Tìm Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tìm Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 9 tháng 12, 2016

Cùng bạn tìm hiểu về Ministop và hệ thống phân phối sáng tạo

Điều này cho thấy thái độ chăm sóc tốt khách hàng rất được Ministop chú trọng. Ministop xem việc bảo quản độ tươi và mùi vị như là một công cụ để khác biệt với hàng hóa của những đối thủ cạnh tranh khác. Vai trò của hệ thống phân phối ngày càng quan trọng hơn khi sự cạnh tranh với các đối thủ ngày càng trở nên gay gắt hơn.
Hệ thống cửa hàng tiện lợi Ministop là niềm tự hào của tập đoàn bàn lẻ đa ngành lớn nhất Nhật Bản: Aeon. Aeon luôn tự hào là hệ thống cửa hàng tiện lợi của họ sẽ mang đến cho người tiêu dùng những trải nghiệm tốt nhất.
Mặc dù ra đời sau những ông khổng lồ khác như 7Eleven, nhưng hiện nay Ministop đang vươn lên như một thế lực mạnh mẽ. Cửa hàng thứ 6 của Ministop cũng đã xuất hiện tại TP.HCM và được rất nhiều người tiêu dùng yêu thích, đây là một dự án hợp tác giữa Ministop và G7Mart thuộc Tập đoàn Trung Nguyên. Công ty này cho hay sẽ liên tục mở 30 cửa hàng trong năm 2012 như một sự trở lại đầy ngoạn mục của G7Mart.
Tạp chí kinh doanh Yomiuri Shibun đã tóm lược các yếu tố chiến lược giúp Ministop xây dựng thành công một hệ thống phân phối sáng tạo có tính cạnh tranh cao tại Nhật Bản.
1. “Xác lập khu vực chiếm lĩnh”
Ministop không điều hành chuỗi cửa hàng trong các quận phía nam Tokyo mà chỉ ở phía bắc thành phố này. Đặc biệt, Ministop đã mở cửa hàng tại  20 trong số 47 phân khu hành chính ở Nhật. Tại sao Ministop không mở cửa hàng ở nhiều khu vực khác trong khi nó là mô hình được nhiều người yêu thích?
Vì chuỗi cửa hàng tiện lợi mua sản phẩm từ những nhà sản xuất và bán chúng tại cửa hàng. Vì thế , không có sự khác biệt lớn trong giá mua - giá bán. Chi phí phân phối chiếm gần 10% giá mua, và điều này là yếu tố then chốt quyết định tính hiệu quả trong kinh doanh.
Nhiệm vụ quan trọng của hệ thống cửa hàng tiện ích là cố gắng giảm chi phí phân phối. Từ khi thành lập, Ministop đã vận dụng chiến lược của mình theo một phương pháp gọi là “xác lập khu vực chiếm lĩnh”, có nghĩa là tập trung sự hoạt động vào những khu vực nhất định và mở nhiều cửa hàng. 

Ministop không mở cửa hàng ở nhiều quận mà chỉ tập trung vào những khu vực nhất định nên chi phí phân phối có thể giảm bởi các nhà cung cấp không phải giao hàng ở cự ly xa. Thời gian giao hàng cũng được rút ngắn.
Có một sự thuận lợi nữa trong chiến lược “xác lập khu vực chiếm lĩnh” là tạo hiệu ứng quảng cáo. Họ có thể tăng doanh số của tất cả các cửa hàng mà không cần quảng cáo trên các phương tiện truyền thông đại chúng, theo đó tiết kiệm được một khoản chi phí rất lớn. Ngoài ra, các nhân viên hỗ trợ và tư vấn có thể di chuyển dễ dàng giúp đỡ chủ cửa hàng một cách nhanh chóng và hiệu quả.
Từ khi thành lập, Ministop chưa bao giờ thay đổi chiến lược mở cửa hàng theo phương thức “xác lập khu vực chiếm lĩnh” này, họ đã hiểu được tầm quan trọng của hệ thống phân phối.
2. Sử dụng các đại lý bán sỉ
Cho đến nửa đầu thập niên 1980, trước khi Nhật có nền kinh tế phát triển cao thì các nhà sản xuất thường kiêm luôn vai trò là những người bán lẻ.
Vì thị trường thiếu hàng nên các nhà sản xuất giữ một vị trí quan trọng. Họ phát triển sản phẩm và nhận đại lý để phân phối sản phẩm của họ.
Các nhà bán lẻ thường không có được những gì họ muốn bán và Ministop cũng tương tự. Họ muốn được biết đến như một công ty cung ứng mọi sản phẩm chỉ tại một địa điểm duy nhất. Để thực hiện mục tiêu này, Ministop đã tạo ra một hệ thống giao hàng số lượng nhỏ và thường xuyên.
Ministop bắt đầu khắc phục thách thức này bằng một biến đổi mang tính cách tân trong hệ thống hậu cần. Họ tổ chức lại hệ thống hậu cần thành một hệ thống đại lý chỉ định chỉ có nhiệm vụ duy nhất là mua hàng từ nhà sản xuất và giao hàng mà thôi.
Hệ thống hậu cần chỉ đảm đương việc giao hàng hóa và có những thuận lợi sau: Rút ngắn cự ly và thời gian giao hàng, giảm số lượng xe giao hàng. 
Ministop đã chú trọng những tiện lợi do hệ thống giao hàng chuyên biệt này mang lại và yêu cầu sự hợp tác từ các đại lý. Tuy nhiên, bước đầu Ministop gặp phải sự phản đối ở nhiều vùng vì hệ thống giao hàng mới này sẽ vô hiệu hóa hệ thống phân phối hiện có. Tuy nhiên, cuối cùng các đại lý cũng chấp nhận phương thức này.
3. Bảo quản mùi vị và độ tươi của thực phẩm
Để bảo quản mùi vị và sự tươi mới của thực phẩm ở mức cao, nhiệt độ thích hợp phải được duy trì trong suốt lúc giao hàng. Ministop đã chia hàng hóa ra làm bốn loại khác nhau: hàng đông lạnh, hàng ướp lạnh, hàng nhiệt độ bình thường và hàng được đóng gói bảo quản.
Vì cơm hộp là sản phẩm chiến lược chủ chốt cho nên Ministop đã xem xét phương pháp giao hàng tốt nhất. Để duy trì độ tươi, những hộp cơm trưa nhiều loại được giao bởi những chuyến xe đặc biệt có nhiệt độ bên trong là 20 độ C. Vì cơm hộp sẽ khác nhau phụ thuộc vào từng thời gian trong ngày cho nên lịch giao hàng của Ministop sẽ chia làm 3 lần/ngày: sáng, trưa và tối để đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
Ministop đã giao cơm hộp thậm chí bằng cả máy bay trực thăng và xe máy vào những lúc đường sá bị tắc do thiên tai hay kẹt xe, không tính đến lợi nhuận cho những lần giao này.
Điều này cho thấy thái độ chăm sóc tốt khách hàng rất được Ministop chú trọng. Ministop xem việc bảo quản độ tươi và mùi vị như là một công cụ để khác biệt với hàng hóa của những đối thủ cạnh tranh khác. Vai trò của hệ thống phân phối ngày càng quan trọng hơn khi sự cạnh tranh với các đối thủ ngày càng trở nên gay gắt hơn.
4. Hệ thống thông tin hỗ trợ chiến lược hậu cần
Hệ thống hậu cần của Ministop sẽ không thiết thực nếu không có hệ thống thông tin tổng hợp. Phiếu đặt hàng từ các cửa hàng đến lúc 10:00 sáng trước khi giao hàng một ngày. Thế nhưng, phiếu đặt cơm hộp hay bữa trưa có thể được nhận vào 10:00 sáng và được giao chiều hôm đó.
Thông tin đặt cơm hộp được gửi qua mạng ISDN đến máy chủ tại các văn phòng điều hành và thông tin này được chuyển tự động đến nhà sản xuất và đại lý giữa 10:45 sáng đến trưa. Theo hướng dẫn giao hàng, nhà sản xuất sẽ hướng dẫn cho trung tâm giao hàng tập trung.
Từ trưa đến 13:00 chiều, bản kê giao hàng cho mỗi nhà sản xuất, bản kê lô hàng cho mỗi cửa hàng và bản kê giao hàng của mỗi lần giao được gửi từ máy chủ đến trung tâm giao hàng tập trung. Hàng được giao sẽ được phân loại cho mỗi cửa hàng phù hợp với bản kê lô hàng. Theo cách này, thời gian yêu cầu cho việc giao hàng được rút ngắn đáng kể.
“Hệ thống thông tin”, “Hệ thống giao hàng tập trung”, và chiến lược ”xác lập khu vực chiếm lĩnh” hỗ trợ cho hệ thống hậu cần có một không hai của Ministop.

Cùng xem lại quá trình tranh thủ thị trường Campuchia

Cũng theo ông Trọng, DN nên xây dựng thương hiệu quốc gia vì người tiêu dùng ở nước sở tại không quan tâm là hàng của công ty nào mà chỉ quan tâm đến hàng của quốc gia nào mà thôi. Hiện nay, chất lượng hàng hóa của các DN Việt Nam đang được nâng cao là lợi thế để người tiêu dùng Campuchia lựa chọn.
Nhiều DN đã chọn Campuchia là thị trường chủ lực
Đứng ngoài khó khăn

Khá bất ngờ khi ông Lê Quốc Phong, Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc Công ty cổ phần phân bón Bình Điền, cho rằng, thị trường Campuchia dường như đứng ngoài khó khăn. “Trong khi tăng trưởng của Công ty tại thị trường trong nước 6 tháng đầu năm chỉ đạt khoảng 5% thì tại Campuchia đã tăng 100% so với cùng kỳ năm trước. Có những thời điểm, Công ty không đủ hàng để cung ứng!”, ông Phong hồ hởi.
Năm ngoái, Bình Điền bán được 90.000 tấn phân bón trị giá 50 triệu USD, dự kiến năm nay tăng lên 130.000 tấn (khoảng 70 triệu USD). Hiện nay, phân bón Bình Điền đã chiếm 50-60% thị phần tại Campuchia. Trước sự phát triển của thị trường, một DN sản xuất phân bón khác là Công ty Phân bón Năm Sao cũng đang xây dựng nhà máy sản xuất tại Campuchia. 

Ông Tăng Quang Trọng, Giám đốc Kinh doanh khu vực Đông Dương của Công ty Đại Đồng Tiến, cũng đánh giá cao cơ hội tại Campuchia. Theo ông Trọng, Campuchia chủ yếu phát triển dịch vụ hơn là sản xuất nên ít bị ảnh hưởng bởi tình hình kinh tế chung.
Từ năm 2011 đến nay, doanh số bán hàng của Đại Đồng Tiến vẫn tăng trưởng tốt. Doanh thu của Đại Đồng Tiến đạt 20 tỷ đồng trong năm 2011, tăng 25 lần chỉ trong một năm thâm nhập thị trường. Vì vậy, Đại Đồng Tiến đã quyết định xây dựng tổng kho tại Campuchia để tạo độ phủ dày hơn. 

Cũng tăng trưởng tốt tại Campuchia là DN sản xuất bánh tươi ABC. Ông Cao Siêu Lực, Giám đốc Công ty Bánh kẹo ABC, cho biết, các loại bánh kẹo của ABC đưa sang đều tiêu thụ mạnh, mỗi năm, doanh số tăng hơn 40%. Hiện, ABC đã có 4 cửa hàng tại Campuchia và công ty đang có kế hoạch mở 10 cửa hàng trong thời gian tới. 

Dễ mà khó


Ông Phong, cho rằng, thị trường Campuchia tuy dễ mà khó. Nếu muốn thâm nhập phải tìm hiểu thật kỹ tâm lý tiêu dùng vì lâu nay, người Campuchia chủ yếu sử dụng hàng của Thái Lan, Philippines, Trung Quốc.
Để có chỗ đứng tại Campuchia, trước tiên, phải tạo sự tin tưởng về sản phẩm đối với người tiêu dùng nơi đây. Ngay thời gian đầu thâm nhập thị trường cũng có khó khăn nhưng Công ty nhất quyết không xuất “hàng xá” hay thông qua thương hiệu khác mà phải có nhãn mác bao bì rõ ràng. 
Bên cạnh đó, thay vì đẩy mạnh bán hàng, Bình Điền tổ chức huấn luyện cho bà con nông dân, đội ngũ bán hàng, đại lý về sản phẩm. Bình Điền ra chính sách: chỉ bán hàng cho những người có giấy chứng nhận khóa huấn luyện của Công ty. Cách làm này khiến nhiều DN nghi ngờ về hiệu quả kinh doanh nhưng Bình Điền đã chứng minh được thành công. 

Ở góc độ khác, ông Cao Siêu Lực, cho rằng, muốn vào thị trường này đòi hỏi DN phải cẩn trọng trong việc lựa chọn đối tác, nhà phân phối. Lúc đầu, ABC chỉ tham gia thông qua các kỳ hội chợ Hàng Việt Nam chất lượng cao, sau đó quyết định bán hàng thông qua nhà phân phối.
Tuy nhiên, cách làm của nhà phân phối này không hợp nên ABC phải tự làm. Hầu hết các DN đã thành công tại thị trường Campuchia đều cho rằng, muốn thành công, DN là phải đào tạo lại đội ngũ bán hàng. Theo ông Cao Siêu Lực, nhân viên bán hàng ở Campuchia rất nhút nhát và thiếu nhiều kỹ năng.
Vì vậy, để mở những cửa hàng ở nước này, Công ty phải đưa nhân viên qua Việt Nam đào tạo. Trong khi đó, Công ty Đại Đồng Tiến thì đưa chuyên gia từ Việt Nam qua Camphuchia đào tạo. 

“Chọn nhà phân phối không cần phải am hiểu về ngành của mình, vệ hệ thống phân phối... vì mọi thứ chúng ta đều có thể đào tạo lại. Quan trọng là họ có niềm tin để phát triển cùng với thương hiệu, sản phẩm của mình”, ông Trọng khẳng định.

Theo ông Trọng, muốn đưa hàng vào nước nào đó, điều quan trọng là không nên để tình trạng đứt hàng diễn ra. Khi có hệ thống phân phối đủ mạnh thì không lo gì không cạnh tranh được với các nước khác.
Bên cạnh đó, một điểm cần lưu ý nữa là chất lượng sản phẩm. Nhờ đầu tư vào chất lượng nên mặc dù nhiều mặt hàng có giá ngang bằng, thậm chí cao hơn hàng Thái Lan nhưng Đại Đồng tiến vẫn phát triển tốt.
Cũng theo ông Trọng, DN nên xây dựng thương hiệu quốc gia vì người tiêu dùng ở nước sở tại không quan tâm là hàng của công ty nào mà chỉ quan tâm đến hàng của quốc gia nào mà thôi. Hiện nay, chất lượng hàng hóa của các DN Việt Nam đang được nâng cao là lợi thế để người tiêu dùng Campuchia lựa chọn.

“Với vị trí thuận lợi, Campuchia sẽ là hỗ trợ cho DN nếu tận dụng được lợi thế này của thị trường để phát triển. Hơn nữa, chất lượng hàng Trung Quốc không tốt nên hình ảnh thương hiệu của nước này đối với người dân Campuchia giảm nhiều. Vì vậy, đây là cơ hội để DN đẩy mạnh bán hàng vào thị trường Campuchia”, ông Phong khẳng định.

Giới thiệu cùng bạn "Áo mới" cho siêu thị

Nỗ lực đổi mới của hệ thống siêu thị Co.opmart là nhằm tăng sức cạnh tranh trong bối cảnh mở cửa thị trường phân phối nội địa. Theo ông Hòa, Saigon Co.op đã mất 2 năm chuẩn bị cho việc thay đổi này với sự tư vấn của nhà tư vấn chiến lược thương hiệu nước ngoài và việc thay đổi sẽ thực hiện cuốn chiếu kéo dài trong 3 năm.
Liên hiệp HTX Thương mại thành phố (Saigon Co.op) đã chính thức công bố thay đổi hệ thống nhận diện cho hệ thống siêu thị Co.opmart. Ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch HĐQT Saigon Co.op, đơn vị chủ quản của Co.opmart, cho biết, cùng với việc thay đổi hệ thống nhận diện là kế hoạch phát triển mạng lưới và nâng cao chất lượng dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày một cao hơn đối với người tiêu dùng.
Cụ thể, Co.opmart thay đổi hình thức đồng bộ với nội dung thông qua việc làm mới, quy hoạch lại không gian mua sắm; bổ sung, gia tăng tiện ích cho khách hàng (tăng hàng hóa, dịch vụ, các tiện nghi trong thanh toán, chương trình đồng thương hiệu với các ngân hàng); đổi mới chất lượng dịch vụ... Saigon Co.op cũng tập trung vào việc quy hoạch, đào tạo và tái đào tạo nguồn nhân lực hiện có.
Nỗ lực đổi mới của hệ thống siêu thị Co.opmart là nhằm tăng sức cạnh tranh trong bối cảnh mở cửa thị trường phân phối nội địa. Theo ông Hòa, Saigon Co.op đã mất 2 năm chuẩn bị cho việc thay đổi này với sự tư vấn của nhà tư vấn chiến lược thương hiệu nước ngoài và việc thay đổi sẽ thực hiện cuốn chiếu kéo dài trong 3 năm.
“Đổi mới hình ảnh đi kèm với kế hoạch phát triển mạng lưới và nâng cao chất lượng dịch vụ là những nỗ lực đầu tiên của chúng tôi để thể hiện lời cam kết này”, ông Hòa khẳng định.

Ngay sau khi thay đổi hệ thống nhận diện thương hiệu, Co.opmart liên tiếp khai trương ba siêu thị với hệ thống nhận diện mới tại TP.HCM, Cà Mau, Hải Phòng. Trong đó, Co.opmart Hòa Bình (175 Hòa Bình, phường Hiệp Tân, quận Tân Phú, TP.HCM) khai trương ngày 28/6 với diện tích 2.500m2.
Sau đó một ngày (29/6), Co.opmart Hải Phòng (số 1 Lê Hồng Phong, phường Lạc Viên, quận Ngô Quyền, TP. Hải Phòng) cũng đã đi vào hoạt động trên diện tích 10.000m2. Tiếp đó, ngày 4/7, Siêu thị Co.opmart Cà Mau (số 9 Trần Hưng Đạo, phường 5, TP. Cà Mau) chính thức khai trương với diện tích 5.000m2

Tự làm mới bằng hình ảnh chuyên nghiệp, hiện đại hơn vừa là cách Vinatexmart thu hút khách hàng, vừa là chuẩn bị cho những cạnh tranh bài bản hơn. Trước đó, vào tháng 12/2011, hệ thống siêu thị Vinatexmart cũng đổi mới hình ảnh nhận diện thương hiệu, đồng thời thay đổi hệ thống quản lý, tăng các dịch vụ tiện ích cho người tiêu dùng (giao hàng miễn phí, gói quà miễn phí, giữ xe miễn phí ở một số siêu thị....).
Cùng với việc “làm mới mình”, hệ thống siêu thị Vinatexmart cũng tăng tốc mở rộng mạng lưới. Chỉ trong vòng hai tuần (từ 15/6-1/7), Vinatexmart đã khai trương 3 siêu thị tại TP.HCM, Vũng Tàu, Buôn Ma Thuột. Bà Phạm Thị Quỳnh Ny, Giám đốc Marketing hệ thống siêu thị Vinatexmart, cho biết, bình quân mỗi tháng Vinatexmart khai trương 3 siêu thị mới.
Từ đầu năm đến nay đã có 12 siêu thị Vinatexmart được khai trương và dự kiến, đến cuối 2012, sẽ có 18-20 siêu thị Vinatexmart nữa đi vào hoạt động. Cũng theo bà Quỳnh Ny, thương hiệu là tài sản vô hình và mở rộng mạng lưới cũng là một cách để làm thương hiệu. Trong cuộc cạnh tranh ngày càng khốc liệt, doanh nghiệp không xây dựng được bản sắc riêng sẽ khó tồn tại.

Cùng tìm hiểu vì sao một quả trứng 5 lần đóng phí

Trong khi đó, bà Nguyễn Thị Huân cũng cho rằng, trong suốt quá trình nuôi, các trại gà của bà đã phải thực hiện nghiêm túc công tác kiểm dịch, vệ sinh an toàn chuồng trại. Việc phải kiểm dịch nhiều lần khi xuất bán trứng đối với công ty bà không quá tốn kém nhưng chiếm nhiều thời gian và góp phần đẩy giá thành lên cao.
Một quả trứng gia cầm từ trại gà đến thị trường phải qua nhiều lần kiểm dịch. Tuy nhiên, mỗi lần kiểm dịch chỉ đơn giản là đem xe trứng tới cho cán bộ thú y kiểm trứng để... tính tiền.
 
Việc phải kiểm dịch nhiều lần khi xuất bán trứng đối với người dân và doanh nghiệp chăn nuôi gây phiền hà, chiếm nhiều thời gian và góp phần đẩy giá thành lên cao.
Dày đặc các loại phí
Ông Lê Trọng Vũ ở xã Trường Đông, huyện Hòa Thành, Tây Ninh phản ánh, ông cùng các hộ nuôi vịt tại địa phương đang phải gánh quá nhiều loại phí cho việc kiểm dịch đàn vịt con.
Mặc dù trong suốt quá trình nuôi, để đảm bảo sức khỏe cho vịt mẹ, ông Vũ đã phải thường xuyên tự mua vaccin để phun khử trùng, tiêu độc chuồng trại.
Mỗi quả trứng "gánh" thêm 200 đồng
Ông Nguyễn Thanh Sơn - Cục phó Cục Chăn nuôi (Bộ NNPTNT) cho biết, nhiều chủ trang trại chăn nuôi và doanh nghiệp kinh doanh nông sản đang "kêu trời" vì "gánh nặng" phí kiểm dịch.
Theo ông Sơn, một quả trứng từ trang trại đến tay người tiêu dùng đang phải gánh tới 5 lần phí kiểm dịch với mức khoảng 50 đồng/quả/lần kiểm dịch. "Bán một quả trứng gà, người dân cũng chỉ thu về được 1.500 đồng. 5 lần phí kiểm dịch, tổng cộng phí kiểm dịch cho mỗi quả trứng đã trên 200 đồng. Đây là một bất cập, chúng tôi đề nghị cần điều chỉnh phí này cho phù hợp” - ông Sơn nói.
Ông Vũ cho biết, quy trình để một con vịt con sau khi nở ra đến thị trường hiện phải qua ít nhất 5 lần kiểm dịch. Trước tiên, sau khi vịt nở, ông Vũ đến cơ quan thú y địa phương để báo cáo và mua giấy xin xuất vịt con. Giá kiểm dịch ban đầu ở mức 5 đồng/con vịt.
Tiếp theo đó, trong quá trình nuôi vịt con từ mới nở đến 15 ngày tuổi, ông Vũ phải mua vaccin phòng dịch để tiêm, chi phí tốn khoảng 1.000 đồng/con.
Khi tới ngày xuất bán, ông Vũ làm thủ tục để xuất vịt con ra khỏi huyện với giá kiểm dịch là 100.000 đồng/xe sản phẩm và chịu chi phí xét nghiệm máu cho vịt với giá 500.000 đồng/xe. Nếu muốn bán sản phẩm ra khỏi tỉnh, ông Vũ tiếp tục lặp lại công đoạn kiểm dịch lần thứ 5 với mức giá 200.000 đồng/xe.
“Mỗi xe chở từ 700 – 800 vịt con, tính ra, chi phí kiểm dịch cho vịt từ 1.500 – 2.000 đồng/con. Chiếm 20% trong giá bán 9.000 – 10.000 đồng/con vịt ra thị trường hiện nay rồi” - ông Vũ tính.
Còn gia đình ông Lê Hồng Quý (ngụ tại xã Long Tân, huyện Ngã Năm, tỉnh Sóc Trăng) mỗi ngày xuất bán từ 4.000 – 5.000 trứng vịt cho các cơ sở thu mua trứng từ TP.HCM, Bình Dương, Cà Mau…
Mỗi lần chuẩn bị giao trứng cho đối tác, ông Quý thông báo với cơ quan thú y địa phương để được cấp giấy kiểm dịch sản phẩm. “Sau khi thông báo, thú y cử cán bộ đến phun hóa chất khử trùng trứng, xe và niêm phong chì lô hàng. Chi phí cho mỗi lần kiểm dịch khoảng 20 đồng/trứng” - ông Quý cho biết.
Theo ông Quý, do kinh doanh nhỏ lẻ, không hạch toán kinh tế rõ ràng, hơn nữa anh em cán bộ thú y cũng đều là chỗ thân quen nên gia đình không tính toán chi ly với các khoản phí này. Tuy nhiên, cái khó cho ông là mỗi lần muốn xuất trứng ra khỏi địa bàn tỉnh phải thực hiện “đổi giấy”, rườm rà, tốn thời gian.
Vì vậy, chỉ khi nào đối tác yêu cầu phải có giấy kiểm dịch, ông Quý mới thực hiện. Còn nếu không yêu cầu, ông Quý chấp nhận bán trứng không có kiểm dịch ra thị trường.
Bà Nguyễn Thị Huân – Giám đốc Công ty TNHH Ba Huân cũng cho biết, mỗi quả trứng nhập từ các trang trại ở tỉnh về để xử lý, bà Huân phải trả 4,5 – 5,5 đồng chi phí kiểm dịch cho cơ quan thú y.
Ngoài ra, công ty còn phải mua một tờ giấy chứng nhận kiểm dịch với mức giá 5.000 đồng/tờ cho các lô hàng bán ra trong nội thành TP. HCM và 30.000 đồng/tờ cho lô hàng xuất đi các tỉnh.
“Trong quá trình vận chuyển từ nhà máy đến cơ sở tiêu thụ, nếu cơ quan thú y có thực hiện phúc kiểm thì chi phí tốn thêm từ 30.000 – 50.000 đồng/lô hàng” - chị Kim Em – Công ty Ba Huân cho biết thêm.
Kiểm dịch đơn giản
Nhiều nông dân nuôi vịt tại Sóc Trăng, Bạc Liêu, Tiền Giang… cũng cho rằng sản phẩm gia cầm của họ đang phải gánh quá nhiều lần phí kiểm dịch. Việc này khiến giá thành bị đội lên trong khi công việc kiểm dịch chỉ đơn giản là “đếm trứng tính tiền”.
“3 tháng một lần cơ quan thú y đến lấy mẫu kiểm tra nhưng công ty cũng phải đóng phí thêm từ 200.000 đồng/lần lấy mẫu. Ngoài ra, việc kiểm dịch khi xuất trứng đi chỉ đơn giản là đếm trứng để tính tiền” - chị Kim Em thông tin.
Còn theo ông Lê Trọng Vũ, ngoài công tác kiểm dịch trên sản phẩm trứng gia cầm được thực hiện đơn giản, trước đây mỗi tháng cơ quan thú y còn đến cơ sở chăn nuôi của ông để thực hiện phun hóa chất khử trùng với giá 50.000 đồng/m2.
“Thấy giá đó cao quá, mà công việc đó gia đình có thể tự thực hiện được nên tui đấu tranh, hiện cơ quan thú y đã giảm giá còn 30.000 đồng/m2” - ông Vũ cho biết.
Trong khi đó, bà Nguyễn Thị Huân cũng cho rằng, trong suốt quá trình nuôi, các trại gà của bà đã phải thực hiện nghiêm túc công tác kiểm dịch, vệ sinh an toàn chuồng trại. Việc phải kiểm dịch nhiều lần khi xuất bán trứng đối với công ty bà không quá tốn kém nhưng chiếm nhiều thời gian và góp phần đẩy giá thành lên cao.
“Do sự phiền hà trên nên rất nhiều cơ sở bỏ qua việc này. Điều này gây bất công đối với các cơ sở làm ăn chân chính, vừa tốn tiền, tốn thời gian kiểm dịch lại phải bán giá cao hơn, khó cạnh tranh hơn” - bà Huân phân tích.
Hơn nữa, theo bà Huân, trứng nhập về từ các tỉnh đã có sẵn giấy chứng nhận kiểm dịch, đủ điều kiện xuất khỏi tỉnh nên dù phí kiểm tra không quá lớn nhưng việc kiểm tra nhiều lần khiến “phí chồng phí” như hiện nay là không cần thiết.
Ông Nguyễn Văn Bảy - Giám đốc phụ trách vùng khu vực miền Trung, Công ty CP chăn nuôi CP Việt Nam: Người tiêu dùng phải gánh chịu
Hiện nay tại Khánh Hòa, mỗi ngày các trại lạnh nuôi gà lấy trứng của Công ty CP sản xuất ra khoảng 65.000 quả trứng. Đa phần số trứng trên tiêu thụ trong tỉnh, chỉ xuất sang tỉnh bạn như Ninh Thuận, Lâm Đồng khi không tiêu thụ hết trong tỉnh. Phí kiểm dịch trứng tiêu thụ trong tỉnh thấp hơn phí kiểm cho trứng đi tiêu thụ ngoài tỉnh.
Cụ thể, nếu tiêu thụ trong tỉnh, mỗi quả trứng phải chịu phí kiểm dịch tổng cộng 7,26 đồng/quả (bao gồm phí kiểm dịch và phí hóa chất). Trong trường hợp chở đi tiêu thụ ở tỉnh khác, mức phí sẽ là 8,06 đồng/quả (phí kiểm dịch và tiền hóa chất).
Ngoài ra, cứ qua mỗi tỉnh, xe chở trứng phải ghé vào trạm kiểm dịch ở tỉnh đó để trình giấy chứng nhận kiểm dịch và phun thuốc sát trùng. Phí sát trùng xe vận chuyển qua tỉnh là 50.000 đồng/chuyến/trạm.
Như vậy nếu một chiếc xe chở trứng từ Khánh Hòa ra tiêu thụ ở Hà Nội, chủ hàng phải rất nhiều lần dừng tại các trạm kiểm dịch của các tỉnh trình giấy, sát trùng xe và đóng phí. Các khoản phí kiểm dịch trên, mỗi quả trứng sẽ được tính vào giá thành khi xuất bán trứng cho khách hàng và tất nhiên, người cuối cùng phải "gánh chịu" các loại phí này là người tiêu dùng.

Tìm hiểu thực hư cước vận tải giảm "nhỏ giọt"

Còn về các hãng xe khách, ông Hùng cho hay, thời gian qua, giá dầu diezel được điều chỉnh lên xuống song hầu hết các công ty không tăng, giảm giá. Theo đó, khó yêu cầu doanh nghiệp giảm giá. Song những đơn vị nào đã nhích giá theo xăng, dầu thời gian qua thì cần giảm để bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng.
Xăng dầu giảm giá liên tục nhưng mỗi lần chỉ 600-800 đồng khiến doanh nghiệp vận tải "tiến thoái lưỡng nan" trong điều chỉnh cước. Nhiều hãng điều chỉnh giá hạ chỉ 300 - 500 đồng một km hoặc vài phần trăm.
Sẵn sàng cho việc giảm cước 300 đồng mỗi km vào sáng 3/7 thì lãnh đạo Taxi Vạn Xuân nhận được tin "xăng tiếp tục giảm 600 đồng mỗi lít".
Cước vận tải giảm nhỏ giọt theo xăng. Ảnh: Kiên Cường
Dù muốn giảm thêm cước, hãng này vẫn đành giữ nguyên quyết định vì toàn bộ bảng giá dán thành xe mới đã in, đồng hồ vừa điều chỉnh, lắp đặt lại, giấy phép cũng đã xin cơ quan chức năng xong...
Sau khi cân nhắc, Vạn Xuân dự định, đến ngày 9/7 sẽ giảm tiếp lần nữa, khoảng 400 đồng cho một cây số. Đại diện của Taxi Vạn Xuân cho biết, mỗi lần điều chỉnh giá cước khá vất vả và tốn kém.
Toàn bộ hệ thống xe phải ngừng hoạt động để lắp đặt lại đồng hồ, mời cơ quan quản lý đến kiểm tra, in ấn bảng giá... "Xăng hạ cước nhỏ giọt khiến chúng tôi rất bị động, giá xuống mỗi lần cũng chỉ vài trăm đồng", ông nói.
Cũng vì giá xăng giảm lắt nhắt nhiều lần nên một số doanh nghiệp vận tải chờ nghe ngóng tình hình trước khi "xuống tay" hạ cước. Giảm 300-400 đồng mỗi cây số, tùy dòng xe 4 hay 7 chỗ, cách đây khoảng chục ngày, ông Đào Vũ Minh Tuấn, Giám đốc taxi Mai Linh cho biết chưa có quyết định mới về cước sau đợt xăng giảm 600 đồng ngày 2/7.
Bởi hãng này vừa hạ cước, giá xăng dầu thời gian này còn biến động, chi phí, thời gian điều chỉnh đồng hồ mỗi lần khá tốn kém.
Tương tự, ông Đinh Quang Sáu, Chủ tịch hội đồng quản trị taxi Hương Lúa cho biết, so với bảng giá taxi tại Hà Nội, giá của hãng vẫn rẻ hơn 500 đồng mỗi km.
Trong khi đó, ngoài xăng, chi phí đầu vào những danh mục khác vẫn tăng, kinh tế khó khăn nên lượng khách giảm đi. "Nhiên liệu đang trên đà giảm giá nên chúng tôi chờ diễn biến tiếp mới điều chỉnh giá", ông nói.
Tại TP.HCM, các doanh nghiệp vận tải cho biết cước đã bắt đầu được điều chỉnh, tuy nhiên mức giảm và cách giảm của từng đơn vị khác nhau.
"Hiện nay tôi đã nhận được 6 đơn đăng ký giảm giá của các doanh nghiệp hoạt động trong bến xe. Mức giảm trung bình của các doanh nghiệp trên là 5-7% tùy theo tuyến, thời điểm đề xuất giảm giá cũng khác nhau", ông Thượng Thanh Hải, Phó giám đốc bến xe miền Đông nói.
Theo ông Hải, dù số đơn vị hạ giá là không nhiều, nhưng do việc cạnh tranh khá gay gắt ở bến xe này nên các lần tăng trước, doanh nghiệp cũng ít điều chỉnh theo, vì vậy khi giảm thì họ cũng giảm nhỏ giọt.
Ông Võ Thanh Tùng, Giám đốc Happy taxi thì cho biết các tuyến trong thành phố của Happy taxi không thực hiện hạ giá nhưng các đường chạy tỉnh thì hạ khá sâu từ nhiều ngày trước khi xăng giảm lần thứ năm.
Với các tuyến đi Bến Tre, cách đây 10 ngày, Happy taxi đã giảm 12%, Cần Thơ chiều về giảm 10%... lãnh đạo hãng cho rằng mức giảm là khá cao nên lần điều chỉnh xăng gần đây họ không thể tiếp tục hạ giá.
"Chạy nội thành, chúng tôi có khoảng 100 xe, trước đây khi xăng tăng mạnh, Happy Taxi không lên theo đồng mức nên các lần giảm gần đây công ty không giảm theo nhưng vẫn giữ mặt bằng giá chung với các đơn vị khác", ông Tùng phân tích.
Công ty TNHH giao nhận vận tải và thương mại Công Thành có cách làm riêng của mình với việc nhiên liệu lên xuống liên tục như năm nay.
"Công ty và khách hàng có ký hợp đồng trước khi vận chuyển, đa số họ là khách hàng lâu năm nên chúng tôi có thỏa thuận điều khoản là khi xăng lên, cước lên, xăng giảm cước giảm ngay", ông Trần Việt Hùng, quản lý mảng vận tải của Công ty Công Thành khẳng định.
Cách làm này khiến hai bên không mất thời gian thỏa thuận lại khi giá xăng dầu "nhảy múa". Công Thành hiện có hơn 100 xe vận chuyển container, mấy chục xe tải nhỏ, nếu giá xăng điều chỉnh, tình hình kinh doanh của Công Thành cũng ít bị ảnh hưởng.
Giá cước vận tải biển lần này cũng cho thấy tín hiệu tốt khi nhiên liệu hạ 5 lần liên tục. Đại diện Công ty TNHH Phát triển và thương mại Phú Thành Việt chuyên làm logistic cho biết hầu hết các tuyến đi nước ngoài đều giảm cước từ 5-7%.
Trong khi đó, ghi nhận trên thị trường cho thấy phụ phí xăng dầu tuyến đường biển cũng giảm đáng kể. Tháng 5, phí này là 85 USD một container, một tháng sau đó còn 82 USD và đầu tháng 7, con số này chỉ còn 65 USD.
Trao đổi với PV, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Chủ tịch Hiệp hội vận tải Việt Nam cho rằng, sau 2 lần xăng tăng với tổng 3.000 đồng và 5 lần giảm liên tiếp với tổng 3.200 đồng thì cước taxi đã có thể giảm.
"Khi xăng lên, nhiều hãng nhích đồng hồ 500 - 1.000 đồng mỗi cây số thì giờ giảm tương ứng, hoặc thêm 300 đồng là hợp lý", ông nói.
Còn về các hãng xe khách, ông Hùng cho hay, thời gian qua, giá dầu diezel được điều chỉnh lên xuống song hầu hết các công ty không tăng, giảm giá. Theo đó, khó yêu cầu doanh nghiệp giảm giá. Song những đơn vị nào đã nhích giá theo xăng, dầu thời gian qua thì cần giảm để bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng.
Chủ tịch Hiệp hội vận tải cho biết thêm, điều chỉnh cước vận tải không đơn giản như thay bảng giá thực phẩm, mà tốn nhiều chi phí, thời gian.
Theo đó, giá xăng giảm lắt nhắt có thể làm khó doanh nghiệp. "Chúng ta có quỹ bình ổn xăng dầu thì nên giãn đợt nhưng tăng số tiền giảm mỗi lần để ổn định thị trường", ông nói. 

Chia sẻ với bạn về việc Trung Nguyên "cải chính" vị thế số 1 của cafe G7

Vị này cho biết thêm, Trung Nguyên đã làm việc Nielsen về việc tranh cãi vị thế "số một" của cafe G7 tuần qua. "Chúng tôi cho rằng có sự hiểu lầm trong thuật ngữ nghề nghiệp từ hai phía nên đã chủ động đối thoại để giải quyết khúc mắc này", bà Giang nói.
Chiều 9/7, Công ty nghiên cứu thị trường Nielsen phát đi thông cáo "Thị trường cafe Việt Nam vẫn tăng trưởng tích cực". Trong đó, thị trường cafe hòa tan, bao gồm cafe 3 trong 1 (3in1) và 2 trong 1 (2in1) có tăng trưởng doanh số tích cực tại 6 thành phố lớn, chủ yếu từ TP.HCM.
"Nestle dẫn đầu thị trường, theo sát sau là các nhà sản xuất trong nước như Trung Nguyên và Vinacafe Biên Hòa", thông cáo nêu rõ.
Thông cáo này được đưa ra 3 ngày sau khi Nielsen có văn bản bác bỏtuyên bố của Trung Nguyên, khi hãng này cho rằng nhãn hàng G7 của mình là cafe hòa tan thứ thiệt số một Việt Nam dựa trên những số liệu cũng do Nielsen nghiên cứu.
Trong văn bản phản đối hôm 6/7, Nielsen cho biết chưa từng cung cấp văn bản xác nhận nào để chứng thực cho thông tin trên. Thêm đó, từ "số một" bao hàm nghĩa rất rộng nên cần phải xem lại vì G7 chỉ dẫn đầu thị phần về cafe 3in1.
Nguồn tin từ Nielsen cho biết, kết quả cuối cùng về thị trường cafe Việt Nam đúng như thông báo chính thức do hãng phát đi chiều ngày 9/7.
Về phần mình, Trung Nguyên cũng đã khéo léo chỉnh lại các công bố về vị thế số một của nhãn hàng G7. Trong tuyên bố "G7 - Cafe hòa tan thứ thiệt số một Việt Nam" phát đi hôm 4/7 đã được bổ sung từ "3in1".
Nguồn số liệu cũng không còn đề tên Nielsen, thay vào đó là "Một công ty nghiên cứu thị trường hàng đầu thế giới".
Đại diện cafe Trung Nguyên, bà Phạm Thị Điệp Giang, Phó giám đốc truyền thông của tập đoàn xác nhận G7 dẫn đầu về thị phần cafe hòa 3in1.
Theo bà, vị thế dẫn đầu dựa trên nghiên cứu của nhiều công ty uy tín và doanh số thực tại của Trung Nguyên. Các nhà máy hoạt động hết công suất song vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường.
Vị này cho biết thêm, Trung Nguyên đã làm việc Nielsen về việc tranh cãi vị thế "số một" của cafe G7 tuần qua. "Chúng tôi cho rằng có sự hiểu lầm trong thuật ngữ nghề nghiệp từ hai phía nên đã chủ động đối thoại để giải quyết khúc mắc này", bà Giang nói.
Sau khi làm việc, Trung Nguyên đã đồng ý bỏ tên "Nielsen" trong kết quả công bố ngày 4/7. Điều này dựa trên tinh thần hợp tác và "tránh cho Nielsen những áp lực từ các đơn vị khác", bà Giang giải thích.
Bà Phạm Thị Điệp Giang cho biết thêm, Trung Nguyên đang tiến hành những khảo sát quy mô hơn với sự tham gia của các chuyên gia đo lường thị trường uy tín về thương hiệu và sản phẩm của Trung Nguyên.
Đơn vị này hi vọng G7 sẽ không phải chịu nghi ngờ về vị thế số một khi những kết quả khảo sát quy mô hơn sớm được công bố.
Trong khi đó, ông Vũ Quốc Tuấn, Giám đốc truyền thông của Nestle - đơn vị được Nielsen công bố dẫn đầu về thị trường cafe hòa tan - cho biết, công ty nhận được kết quả từ AC Nielsen chiều hôm qua (9/7).
Hãng cũng không quá bất ngờ vì việc dẫn đầu thị phần cafe hòa tan tại Việt Nam đã duy trì hơn 10 năm nay và điều đó cũng không dễ thay đổi một sớm một chiều.
Theo ông Tuấn, thị trường cafe hòa tan bao gồm cả cafe hòa tan 3in1 (cafe, sữa, đường), cafe 2in1 (cafe, đường) và cafe bột. Nestle dẫn đầu về cafe hòa tan nói chung, còn Trung Nguyên chỉ dẫn đầu cafe 3in1 nên có thể dẫn đến sự hiểu nhầm trên.
"Theo thói quen uống cafe người Việt, một nửa người thích uống cafe sữa, còn lại cafe đen. Vì thế dẫn đầu cafe 3in1 mới chỉ nói đến một nửa thị trường", ông Tuấn nói.
Ông Tuấn cho rằng, Nielsen là công ty nghiên cứu thị trường nên thông tin hoàn toàn mang tính trung lập. Hằng năm, các doanh nghiệp đều chi hàng nghìn đôla để mua số liệu từ hãng đó, không chỉ để định vị thương hiệu mà còn hoạch định chiến lược phát triển.
"Không đơn vị nào chi tiền để nhận dữ liệu sai, yếu tố chính xác cũng là điều kiện quan trọng hàng đầu của một công ty nghiên cứu như Nielsen", ông Tuấn nhấn mạnh.

Tìm hiểu câu chuyện dừa Bến Tre... vẫn chờ thương lái

Để cứu cây dừa, UBND tỉnh Bến Tre vừa đưa ra một gói các giải pháp tổng thể: Các doanh nghiệp tăng cường liên kết, tránh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh khi chào hàng xuất khẩu và sau đó lại quay lại ép giá nông dân; đồng thời khuyến khích doanh nghiệp mở rộng các điểm thu mua dừa của nông dân để hạn chế bớt khâu trung gian, nâng được giá dừa trái lên.
Giá thấp, cung vượt cầu… đang khiến trái dừa Bến Tre lâm vào cảnh chợ chiều, chất đống chờ thương lái.
Bến Tre là xứ sở của trái dừa, với nhiều loại: dừa ta, dừa dâu, dừa lửa, dừa cỏ, dừa sáp, dừa bị… và các sản phẩm từ dừa. Thống kê của Hiệp hội dừa Bến Tre cho thấy, kinh tế của hơn 70% hộ nông dân tại tỉnh đều liên quan đến loại cây trồng này và các sản phẩm từ dừa đang được xuất khẩu sang 80 quốc gia, vùng lãnh thổ.
Năm nay, dừa được mùa nhưng không được giá; sản lượng ước tính đạt gần 500 triệu trái, tăng hơn 20% so với năm 2011, nhưng giá dừa khô đang giảm thê thảm, chỉ còn 1.000 đồng/trái, tương đương 1/10 so với giá cùng thời điểm năm ngoái.
Sở Công Thương tỉnh Bến Tre cho biết, giá dừa hiện nay đang tuột dốc thấp nhất trong hàng chục năm qua. Nguyên nhân là do dừa không tiêu thụ được, nguồn cung lớn nhưng sức mua các sản phẩm từ dừa trên thế giới giảm.
Cụ thể, năm 2012 sản lượng dừa trái của các nước tăng 20%, riêng tỉnh Bến Tre sản lượng dừa tăng 10-40%.
Trong khi đó, thị trường và giá bán các sản phẩm chế biến từ dừa giảm mạnh, chẳng hạn giá cơm dừa nạo sấy xuất khẩu giảm 56%, từ 2.730USD/tấn hồi tháng 9/2011 còn 1.150USD/tấn hiện nay...
Tình hình trên làm tất cả doanh nghiệp chế biến dừa đều phải hoạt động cầm chừng, thậm chí một số hộ dân đã phá bỏ vườn dừa để chuyển sang mục đích khác.
Theo tìm hiểu, thời gian qua, đầu ra của trái dừa vẫn bị phụ thuộc vào thị trường ngoài nước, trong đó Trung Quốc tiêu thụ khoảng 35%, các nước Trung Đông, Bắc Phi tiêu thụ khoảng 50% sản phẩm từ dừa.
Thế nhưng, thị trường châu Phi do ảnh hưởng suy thoái kinh tế và Trung Đông bất ổn chính trị đang giảm sức mua rõ rệt, trong khi thương lái Trung Quốc thì ngày càng bày đủ chiêu, trò “thôn tính” mặt hàng nông sản này.
Cụ thể, không chỉ chi phối thị trường thạch dừa, thương lái Trung Quốc còn thỏa thuận ngầm với các doanh nghiệp sản xuất dừa ở địa phương để lách luật xuất khẩu dừa nguyên trái.
Theo đó, họ cử người lên tàu để trực tiếp điều hành việc thu mua, doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam chỉ làm theo sự điều hành để hưởng hoa hồng từ 30 - 40 đồng/trái. Việc mua ở giá nào, số lượng bao nhiêu đều do thương lái Trung Quốc quyết định…
Để cứu cây dừa, UBND tỉnh Bến Tre vừa đưa ra một gói các giải pháp tổng thể: Các doanh nghiệp tăng cường liên kết, tránh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh khi chào hàng xuất khẩu và sau đó lại quay lại ép giá nông dân; đồng thời khuyến khích doanh nghiệp mở rộng các điểm thu mua dừa của nông dân để hạn chế bớt khâu trung gian, nâng được giá dừa trái lên.
Riêng đối với nông dân, UBND tỉnh đang vận động các ngân hàng giãn nợ, cho vay thêm vốn để người dân có điều kiện tiếp tục đầu tư chăm sóc vườn dừa và vượt qua được khó khăn hiện nay.

Khám phá việc lung lay "thế chân vạc"

Cụ thể, theo thông tin mà Trung Nguyên công bố trong cuộc họp báo trên thì năm 2011: sản phẩm cà phê hòa tan G7 của Trung Nguyên dẫn đầu thị trường cà phê hòa tan Việt Nam với 38% thị phần; đứng thứ nhì là Vinacafé của Công ty CP Cà phê Biên Hòa với 31% thị phần; Nescafé của Tập đoàn Nestlé đứng vị trí thứ 3 với 27%; cà phê dành cho phái nữ Passiona ra đời cách đây hơn 1 năm cũng đã chiếm 1% thị trường; 1% thị phần còn lại của thị trường chia đều cho hơn 900 nhãn hiệu cà phê khác.
Biểu đồ thị phần Trung Nguyên dẫn số liệu từ AC Nielsen
Chia ba rồi lại chia tư

Tuần trước, Công ty CP Tập đoàn Trung Nguyên tổ chức họp báo nhằm công bố số liệu nghiên cứu thị trường của Công ty AC Nielsen và Kantar Worldpanel. Trong họp báo này, Trung Nguyên có dẫn kết quả về việc “trong năm 2011, sản phẩm cà phê hòa tan G7 đã dẫn đầu thị trường cà phê hòa tan 3in1 Việt Nam về thị phần (38%)”.
Cũng trong thông cáo, Trung Nguyên trích số liệu của Nielsen để khẳng định thị phần G7 tiếp tục tăng lên trên thị trường cà phê hòa tan. Theo đó, trong quý I/2012, G7 dẫn đầu về thị phần (40%) và sản lượng (35%) của ngành cà phê hòa tan.
Tuy nhiên, rất bất ngờ là cùng ngày, Nielsen qua phương tiện truyền thông phát đi thông báo chưa từng cung cấp văn bản xác nhận nào để chứng thực cho công bố của Trung Nguyên. 

Dù tranh cãi còn chưa rõ ràng nhưng cũng cho thấy sự cạnh tranh khốc liệt trong thị trường cà phê hiện nay. Các công ty tranh thủ mọi thông tin và cơ hội thị trường để giành từng chút thị phần.
Nhiều kết quả khảo sát cho thấy, G7, Nescafé và Vinacafé đang chiếm hầu hết thị trường cà phê hòa tan Việt Nam. Tuy nhiên, thị trường này luôn ở thế cạnh tranh khốc liệt và số liệu về thị phần thay đổi liên tục.
Cụ thể, theo thông tin mà Trung Nguyên công bố trong cuộc họp báo trên thì năm 2011: sản phẩm cà phê hòa tan G7 của Trung Nguyên dẫn đầu thị trường cà phê hòa tan Việt Nam với 38% thị phần; đứng thứ nhì là Vinacafé của Công ty CP Cà phê Biên Hòa với 31% thị phần; Nescafé của Tập đoàn Nestlé đứng vị trí thứ 3 với 27%; cà phê dành cho phái nữ Passiona ra đời cách đây hơn 1 năm cũng đã chiếm 1% thị trường; 1% thị phần còn lại của thị trường chia đều cho hơn 900 nhãn hiệu cà phê khác.
Trong quý I/2012, cà phê hòa tan G7 tăng thêm 2% thị phần để giữ vững vị trí dẫn đầu với 40%; Nescafé vươn lên vị trí thứ 2 với 31% thị phần; còn Vinacafé giảm xuống còn 26%.

Để có thêm 2% thị phần, Trung Nguyên đã tích cực tung ra sản phẩm mới, tăng cường bán hàng về chợ truyền thống, phát triển hệ thống nhà máy với dây chuyền hiện đại nhất... Trong khi đó, tận dụng thời điểm Cà phê Biên Hòa đang bận rộn sáp nhập cùng Masan, Nestlé đẩy mạnh chiến dịch bán hàng, tăng cường chiến khấu... và đã giành thêm 4% thị phần. 

Ở một diễn biến khác, nhà máy của Công ty TNHH Café Ngon với công suất 10.000 tấn/năm (100% vốn Ấn Độ, khởi công xây dựng từ tháng 9/2010 với vốn đầu tư 18 triệu USD) cũng vừa được Tập đoàn Tài chính Quốc tế (IFC), thành viên của Ngân hàng Thế giới rót thêm 18 triệu USD.
Đại diện Công ty này cho biết sẽ dùng khoản tiền này để đầu tư vào thiết bị và công nghệ nhằm sản xuất sản phẩm cà phê với chất lượng tốt hơn và thân thiện với môi trường hơn. Không dừng lại ở đó, trong thời gian tới công ty này sẽ tiếp tục đầu tư giai đoạn II với số vốn 50 triệu USD.
Trước đó, vào cuối năm 2011, Nestlé cũng đã công bố xây nhà máy sản xuất cà phê với vốn đầu tư lên đến 270 triệu USD tại Đồng Nai. Dự kiến, những sản phẩm cà phê của nhà máy này sẽ ra mắt người tiêu dùng trong năm 2013.

Nỗi lo Starbucks

Ở thị trường cà phê chế biến, cuộc cạnh tranh báo hiệu những thay đổi lớn khi xuất hiện các thương hiệu hàng đầu thế giới. Giữa năm 2011, Jollibee Foods, tập đoàn cung cấp các chuỗi nhà hàng thức ăn nhanh của Philippines, đã mua lại 49% cổ phần của Việt Thái, doanh nghiệp sở hữu hơn 60 quán cà phê Highlands Coffee trên toàn quốc và nhà hàng 5 sao 1911 tại Hà Nội.
Thông tin dồn dập về việc Starbucks đang ráo riết chuẩn bị để vào Việt Nam trong đầu năm 2013 càng khiến các doanh nghiệp trong nước lo lắng. Hiện tại, Starbucks đã tiến hành đăng ký bảo hộ thương hiệu và lập văn phòng đại diện tại Việt Nam. Đại diện của Starbucks cũng đã thông tin về chiến lược nhắm vào những thị trường mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam...
Hiện Starbucks có đến 11.000 cửa hàng ở Mỹ và Canada; 6.000 cửa hàng khác nằm rải rác nhiều nơi trên thế giới với doanh thu đạt 24 tỷ USD. Nhiều thông tin cho biết, TP.HCM và Hà Nội sẽ là đích ngắm của thương hiệu khổng lồ này trong năm 2013. 

Trước áp lực này, doanh nghiệp có thị phần cà phê hòa tan đứng đầu thị trường đang tìm cách hạn chế rủi ro bằng nhiều cách. Trung Nguyên có 1.000 quán cà phê lớn nhỏ trên toàn quốc, nhưng những quán đầu tư theo đúng tiêu chuẩn Trung Nguyên chỉ đạt con số 42.
Vì vậy, hiện tại, Công ty này đang đẩy mạnh mở rộng mạng lưới quán cà phê mang thương hiệu Trung Nguyên. Mới đây nhất, Trung Nguyên đã trình Chính phủ dự án “Cụm cà phê quốc gia” tại Đắk Lắk với mục tiêu đạt giá trị xuất khẩu của cà phê lên 20 tỷ USD, gấp 10 lần giá trị hiện nay.
Bên cạnh đó, Trung Nguyên cũng đã khánh thành nhà máy cà phê hòa tan thứ hai tại Bắc Giang và là nhà máy thứ 5 với số vốn đầu tư hơn 30 triệu USD. Ông Đặng Lê Nguyên Vũ, Chủ tịch Công ty CP Tập đoàn Trung Nguyên, cho biết, bên cạnh nhà máy mới ở Bắc Giang, Công ty đang tăng công suất của nhà máy mua lại từ Vinamilk lên thêm 30%.
3kg/năm
Những nghiên cứu của Katar Worldpanel cũng chỉ ra rằng, người tiêu dùng cà phê Trung Nguyên là những người “sành” cà phê và tiêu thụ lượng càphê nhiều nhất trên thị trường Việt Nam, với tỷ lệ đa số mua gần 3kg cà phê/năm/người và uống sáu lần/tuần, cao hơn mức tiêu thụ trung bình là 2,6kg cà phê/năm/người và uống năm lần/tuần.
Với Trung Nguyên, nhà máy cà phê hòa tan thứ hai tại Bắc Giang một mặt đáp ứng nhu cầu gia tăng sử dụng sản phẩm cà phê G7 của Trung Nguyên tại miền Bắc, mặt khác đáp ứng cho nhu cầu xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan.
Năm 2011, kim ngạch xuất khẩu cà phê hòa tan G7 của Trung Nguyên sang Trung Quốc là 50 triệu USD, nhưng ông Vũ cũng không giấu mục tiêu thu về 1 tỷ USD từ thị trường này đến năm 2014. 

Cũng như Trung Nguyên, Công ty CP Vinacafé Biên Hòa bán 50% cổ phần cho Tập đoàn Masan cũng nhằm tận dụng lợi thế về hệ thống phân phối sẵn có của Masan để phát triển.
Tại đại hội cổ đông thường niên 2012 của Vinacafé trong tháng 4, ông Đoàn Đình Thiêm, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Vinacafé Biên Hòa cho biết, với sự tham gia và hỗ trợ lớn của Masan, HĐQT đặt mục tiêu sẽ đưa Vinacafé Biên Hòa thống lĩnh thị trường cà phê Việt Nam với 80% thị phần cà phê hòa tan và 51% thị phần cà phê rang xay trong năm 2016. Bên cạnh đó, Công ty cũng sẽ triển khai chuỗi quán Vinacafé nhằm quảng bá thương hiệu và kinh doanh có lãi từ mô hình này.

Chia sẻ với bạn chuyện tay mua cổ phần, chân thò miếng đất

Ông Kim Soung Gyu cho biết, E-Land cũng muốn tận dụng 1 số mặt bằng, hệ thống phân phối của TCG để phát triển chuỗi cửa hàng bán lẻ thời trang mang các thương hiệu của E-Land tại Việt Nam (trước mắt là TP.HCM). Song, để làm được điều này, doanh thu từ thị trường cũng phải đảm bảo mức 30 triệu USD/năm, nhưng ở Việt Nam chưa có công ty nào đạt được con số đó. 
Mòn mỏi chờ thị trường
Tháng 7/2009, Công ty CP Dệt may Đầu tư Thương mại Thành Công (TCG) đón tổng giám đốc mới, khi E-Land Asia Holdings Ptd. (thuộc tập đoàn E-Land, Hàn Quốc) hoàn tất việc mua lại 10 triệu cổ phiếu của TCG (tương đương 30%vốn điều lệ).

Không khó để nhận ra mục tiêu của E-Land khi hợp tác với TCG, TCG có hệ thống nhà xưởng (dệt, đan, may... có thể đáp ứng các đơn hàng của E-Land đã nhận từ các đối tác) và là nền tảng để giúp E-Land mở hệ thống bán lẻ hàng thời trang tại thị trường Việt Nam. 

Khi đó, ông Lee Eun Hong, Tổng giám đốc của TCG, cho rằng, trước khi mua cổ phiếu TCG, E-Land cũng đã tìm hiểu và phân tích kỹ tình hình của TCG. Bên cạnh ngành nghề truyền thống là dệt may, bất động sản (BĐS) cũng là hạng mục đầy tiềm năng của TCG. 

Ngoài khu đất gần 3ha đang là nhà xưởng và văn phòng tại đường Tây Thạnh (quận Tân Phú), TCG còn sở hữu một số dự án nhà ở khác tại TP.HCM, như: Khu chungcư cao cấp Thành Công 1 (đối diện với văn phòng TCG), dự án Thành Công 3 (đường Nguyễn Tất Thành, Tôn Thất Thiết, quận 4), khu nghỉ dưỡng tại Phan Thiết (Bình Thuận) và các khu đất tại Long An, Tây Ninh (là khu sẽ tiếp nhận nhà xưởng di dời từ TP.HCM). 

Tuy nhiên, thời điểm E-Land thamgia thị trường, tình hình BĐS đang lâm vào thế khó nên quỹ đất của TCG cũng chưa chuyển mình. Theo ông Kim Soung Gyu, Giám đốc đầu tư chiến lược E-Land, khu vực nhà xưởng và trụ sở của TCMhiện tại (hay còngọi là dự án ThànhCông 2) được quy hoạch thành khu mua sắm và chung cư. 

Tuy nhiên, điều này còn tùy thuộc vào tiến độ di dời của TCG ra khỏi TP.HCM. Trong báo cáo thường niên năm2011 của TCG cũng nêu rõ, dự án Thành Công 2 là kế hoạch dài hạn; trong khi dự án Thành Công 1 và 3 dự kiến sẽ được phát triển trong năm 2012 hoặc cũng có thể ngay khi thị trường BĐS hồi phục. 

Như vậy, trong lĩnh vực này, kể từ năm2009 trở lại đây, doanh thu đáng kể nhất của TCG là việc chuyển nhượng toàn bộ cổ phần tại dự án Khu công nghiệp Slico, Long An (năm2010), đạt lợi nhuận 43 tỷ đồng. Không riêng gì TCG chưa khai thác tối đa nguồn thu từ quỹ đất, Công ty CP May Sài Gòn 3, bên cạnh cao ốc văn phòng (ại 140, Nguyễn Văn Thủ, Q.1 đang cho thuê, cũng đang chờ thời điểm thích hợp để phát triển dự án. Ông Phạm Xuân Hồng, Tổng giám đốc May Sài Gòn 3, nhận xét, BĐS là yếu tố quan trọng trong việc cổ phần hóa DN, điều này càng đặc biệt với các nhà đầu tư (NĐT) nước ngoài có ý định tham gia vào thị trường Việt Nam. 

Tuy nhiên, trong thời gian này, có đất chưa chắc đã phát triển được. Cụ thể như dự án xây dựng khu phức hợp của Sài Gòn 3 và các đối tác tại khu vực Hồ Con Rùa (quận 1) vẫn đang cho thuê để kinh doanh nhà hàng. 

Nhắm mặt bằng bán lẻ
Thực tế, chuyện đất đai gắn với DN, nhất là trong quá trình cổ phần hóa hay M&A đều được các bên liên quan soát xét khá kỹ (những vấn đề liên quan đến định giá DN khiến quá trình cổ phần hóa chậm lại, như trường hợp của Habeco, hiện nay phải định giá lại DN theo quy định mới có gắn liền với đất đai). 

Bởi đây là yếu tố làm tăng tính hấp dẫn cho DN (khi định giá) trong mắt NĐT. Tuy nhiên, theo Luật sư Nguyễn Hữu Phước, Trưởng văn phòng Luật sư Phước và các cộng sự, việc định giá DN để mua cổ phiếu thì cần phải ghi nhận từ cả hai, từ ngành nghề kinh doanh tay phải truyền thống và ngành nghề kinh doanh tay trái là BĐS. 

Trong trường hợp các DN sở hữu nhiều BĐS phục vụ cho nghề “tay phải” lại càng có sức hút. Theo ông Andy Ho, Giám đốc đầu tư Tập đoàn VinaCapital, trong số 10 DN nhà nước sẽ tiến hành cổ phần hóa trong giai đoạn 2012 - 2015, Satra cũng là DN được nhiều NĐT nước ngoài quan tâm do sở hữu không ít hệ thống trung tâm thương mại, điểm bán lẻ, mặt bằng đắc địa tại TP.HCM (doanh thu của Satra được ghi nhận là 1,5 tỷ USD năm 2011). Và điều này cũng lặp lại với Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex). 

Việc sở hữu cổ phần những DN dạng này giúp các NĐT nước ngoài tiết giảm chi phí lẫn thời gian tiếp cận thị trường. Tuy nhiên, con đường từ tiếp cận được tài sản cố định của DN đến việc cụ thể hóa lợi nhuận từ đây không hẳn lại là chuyện đơn giản. 

Ông Kim Soung Gyu cho biết, E-Land cũng muốn tận dụng 1 số mặt bằng, hệ thống phân phối của TCG để phát triển chuỗi cửa hàng bán lẻ thời trang mang các thương hiệu của E-Land tại Việt Nam (trước mắt là TP.HCM). Song, để làm được điều này, doanh thu từ thị trường cũng phải đảm bảo mức 30 triệu USD/năm, nhưng ở Việt Nam chưa có công ty nào đạt được con số đó. 

“Qua trình khảo sát thị trường, chúng tôi cần đánh giá lại chiến lược và việc mở kênh phân phối sẽ phụ thuộc vào vấn đề thời gian”, ông Kim Soung Gyu nói. Như vậy, tính đến thời điểm này, E-Land, NĐT sở hữu 43,37% vốn điều lệ củaTCG vẫn chưa khai thác hết tiềm năng của TCG như họ kỳ vọng.

Tìm hiểu việc gian nan đưa hàng vào siêu thị

Quan niệm như thế nên dù còn đến hơn hai tháng nữa Pico Plaza và siêu thị Pico mới chính thức khai trương, nhưng ông Trường và lãnh đạo Công ty TNHH MTV Pico Sài Gòn đã gặp mặt với hơn 400 nhà cung cấp chủ lực của các ngành hàng thực phẩm tươi sống, thực phẩm công nghệ, hóa mỹ phẩm, may mặc, đồ gia dụng.
Cũng theo bà Lâm: “Trong thương thảo hợp đồng, các nhà cung cấp thường phải chuẩn bị tâm lý bị nạt nộ, bị la lối, bị nghe những lời nói không hay. Dù vậy, muốn phát triển kinh doanh, doanh nghiệp (DN) phải bấm bụng đưa hàng vào siêu thị”. 

Theo ghi nhận, để vào được siêu thị, có những sản phẩm phải mất hai năm để tiếp cận người tiêu dùng. Vào được siêu thị đã khó, tồn tại ở siêu thị còn khó khăn hơn.
Nhiều siêu thị đòi chiết khấu tăng mỗi năm cộng lại có khi lên đến hơn 10%. Tuy nhiên, ông Hoàng Trọng, Giám đốc Điều hành Công ty Tư vấn The Pathfinder lại cho rằng, hàng vào siêu thị có trở ngại là do một phần lỗi của nhà sản xuất.
Hiện nay, các DN sản xuất một cách tự phát, không có thị trường ổn định và lâu dài. Nhiều nhà sản xuất thiếu thông tin thị trường về thị hiếu, nhu cầu cũng như xu hướng tiêu dùng.
Phần lớn DN vẫn chưa chú trọng nghiên cứu và sản xuất sản phẩm chất lượng cao nên giá thấp. Đã vậy, sản lượng cung ứng thấp, thiếu liên kết với các nhà phân phối, bán lẻ...
Cùng nhận định này, ông Đặng Chí Hùng, Giám đốc Kinh doanh Công ty Nhôm Kim Hằng, cho rằng: “Vấn đề không phải các siêu thị làm khó DN mà do một số cá nhân đơn lẻ tạo thành. Nhưng có một điều lo lắng là siêu thị mỗi năm đều tăng chiết khấu, rất khó khăn cho DN!”.
Một DN ngành thực phẩm cho biết, nếu tính tổng các chi phí chiết khấu, giảm giá bán, khuyến mãi... thì DN phải chi tới 40%!

Dù kênh bán hàng hiện đại chỉ chiếm chưa đến 20% thị phần của ngành bán lẻ nhưng sẽ phát triển mạnh trong thời gian tới. Vai trò của kênh phân phối siêu thị ngành càng quan trọng đối với nhiều doanh nghiệp.
Nhiều DN cho rằng, nếu không đưa hàng vào siêu thị ngay từ bây giờ thì 5 năm nữa muốn có 1-2% thị phần tại siêu thị cũng rất khó. Vì vậy, theo ông Võ Duy Trường, Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Pico Sài Gòn, muốn “đôi bên cùng có lợi”, DN phải cùng với nhà cung cấp phải gặp gỡ, bàn thảo nhằm tìm ra giải pháp hợp tác tốt nhất trong việc đưa hàng hóa cho siêu thị.
Quan niệm như thế nên dù còn đến hơn hai tháng nữa Pico Plaza và siêu thị Pico mới chính thức khai trương, nhưng ông Trường và lãnh đạo Công ty TNHH MTV Pico Sài Gòn đã gặp mặt với hơn 400 nhà cung cấp chủ lực của các ngành hàng thực phẩm tươi sống, thực phẩm công nghệ, hóa mỹ phẩm, may mặc, đồ gia dụng.
Tại đây, hai bên đã bàn đến các giải pháp giao hàng, thanh toán, trưng bày, chiết khấu, khuyến mãi... Các chuyên gia cho rằng, cách làm của Pico là khôn ngoan vì trong bối cảnh kinh tế khó khăn, không chỉ DN sản xuất mà nhà phân phối cũng bị ảnh hưởng nhiều. Thay vì gây khó cho nhau, cả hai nên “bắt tay nhau” để mang đến những sản phẩm tốt nhất cho người tiêu dùng.