Hiển thị các bài đăng có nhãn Xu Hướng Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xu Hướng Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 9 tháng 12, 2016

Chia sẻ cùng bạn về việc Cacao Việt Nam: Nhọc nhằn "hớt bọt"

Trái với viễn cảnh “không người mua” hạt ca cao cách đây nhiều năm, hiện rất nhiều DN đang quy hoạch trồng lẫn thu mua ca cao trên khắp 15 tỉnh, thành thuộc vùng quy hoạch của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. DN có vùng trồng cũng đang cố gắng phấn đấu đạt chứng nhận UTZ CERTIFIED.
Đứng ngoài không vui
Thay vì thu mua, sơ chế, lên men và xuất khẩu trực tiếp hạt ca cao đến các nhà sản xuất sôcôla trên thế giới, thì các doanh nghiệp (DN) Việt Nam chỉ dừng lại ở khâu trung gian là quy hoạch vùng trồng và cung cấp hạt ca cao lên men cho các đầu mối DN ngoại như: Công ty Cargill (Mỹ), ED&F Man (Anh) hay Mitsubishi Corporation (Nhật).
Ông Trịnh Văn Thành, Giám đốc Công ty TNHH TM-DV-SX Cacao Thành Đạt, đơn vị duy nhất trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đạt chứng nhận UTZ CERTIFIED (chứng nhận sản phẩm đạt chất lượng xuất khẩu), chia sẻ, mặc dù được đánh giá là sản phẩm đáp ứng tốt yêu cầu của Mars Incorporated (công ty đứng sau các hãng sôcôla nổi tiếng như: Mars bars, M&Ms, Milky Way và Dove), nhưng Thành Đạt vẫn phải thông qua Công ty Cargill.
Ca cao Việt Nam được xuất khẩu dưới 2 dạng thô và thành phẩm. Trong đó, xuất khẩu thành phẩm thu được lợi nhuận lớn hơn. Trong khi bán ca cao sơ chế chỉ có thể lãi15%, thì sản phẩm từ ca cao như kẹo, bột... có thể lãi đến400%.
Vì nếu xuất khẩu riêng lẻ, Thành đạt không thể đáp ứng được nhu cầu nhập khẩu của khách hàng.
“Hiện nay, chúng tôi có tổng diện tích gần 1.200ha, sản lượng 2.200 tấn/ha và cũng chiếm gần 80% thị phần cung cấp ca cao hạt lên men cho Cargill trên toàn tỉnh Bà RịaVũng Tàu, nhưng sản phẩm đạt chứng nhận UTZ CERTIFIED thì chưa đến 50%”, ông Thành nói. 

Trường hợp trên không phải là chuyện riêng của Thành Đạt, bởi hiện nay có rất nhiều DN đóng vai trò thu mua kiêm đầu tư và cung cấp lại cho các đầu mối ngoại.
Tổng công ty Cà phê Việt Nam cũng đã có kế hoạch phát triển 2.500ha ca cao từ năm 2010 đến năm 2015, trên cơ sở rà soát, chuyển đổi diện tích cà phê tái canh không hiệu quả sang trồng ca cao.
Trong đó, kế hoạch diện tích của các công ty thành viên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk là 2.150ha, gồm 8 vùng trọng điểm: huyện M’Đrăk, Krông Pắk, thị xã Buôn Hồ, CưMgar, EaKar, Krông Năng, Cư Kuin và TP. Buôn Ma Thuột. 

Trong khi đó, tại Đồng Nai, nông dân chủ yếu bán trái tươi cho Công ty TNHH Đầu tư Phát triển nông nghiệp Nguyên Lộc và Công ty Trọng Đức sơ chế để xuất khẩu.
Còn ở tỉnh Tiền Giang, vấn đề thu mua ca cao đã không còn là chuyện đáng ngại, vì ở hầu hết các xã trồng ca cao đều có các điểm thu mua chủ yếu của Công ty Cargill hay ED&F Man.
Ngoài ra còn có một số hộ nhận thu mua trái tươi của nông dân để phơi ủ hạt và bán lại cho các trạm thu mua của các công ty lớn. Tương tự, tại tỉnh Vĩnh Long, Công ty CP TM-SX Nông sản Thảo Li (TP.HCM) cũng đã xây dựng hệ thống cơ sở thu mua trái tươi, mô hình thu mua này cũng được đầu tư theo hình thức điểm thu mua nhỏ lẻ tại một số xã có vùng trồng.
Còn cửa cạnh tranh?

Trái với viễn cảnh “không người mua” hạt ca cao cách đây nhiều năm, hiện rất nhiều DN đang quy hoạch trồng lẫn thu mua ca cao trên khắp 15 tỉnh, thành thuộc vùng quy hoạch của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. DN có vùng trồng cũng đang cố gắng phấn đấu đạt chứng nhận UTZ CERTIFIED.
Đến nay, Việt Nam đã có 11 DN đạt chứng nhận này sau gần 2 năm tiếp cận. Song, xem ra các DN cũng chỉ đang hớt phần nổi của thị trường ca cao hạt lên men tại Việt Nam, mặc dù Vinacacao cũng có kế hoạch thu mua, nhưng so với các đối thủ nước ngoài thì tỷ trọng của Vinacacao quá nhỏ.

Riêng Cargill Việt Nam thu mua đến 80% sản lượng ca cao của Việt Nam, chủ yếu để chế biến xuất khẩu. Theo ông Thành, ngoài Cargill, Thành Đạt cũng đang bắt đầu thử nghiệm quy trình lên men, đáp ứng yêu cầu của Mitsubishi Corporation, đơn vị đang có nhu cầu thu mua nông sản Việt Nam, trong đó có ca cao hạt lên men.
Trong khi đó, Vincent, người đồng sáng lập Công ty Marou Chocolate, có nhà máy sản xuất tại Thủ Đức, cũng cho biết, họ sẵn sàng trả giá cao hơn Cargill với điều kiện chất lượng hạt và người trồng tuân thủ nguyên tắc phát triển bền vững.
Đồng thời, chấp nhận cuộc chiến về giá với Cargill và các tập đoàn lớn thu mua ca cao hạt lên men lẫn các nhà chế biến socôla như: Grand-Place, Lâm Anh (Mỹ Tho)... tại Việt Nam.

Ông Nguyễn Tuấn Vượng, Giám đốc Thu mua của Công ty Cargill, tiết lộ, Cargill đang trong quá trình chuẩn bị xây dựng nhà máy lên men ca cao hạt trực tiếp tại Bình Phước để thuận tiện hơn trong quá trình thu mua và phân loại sản phẩm.
Với sự chuẩn bị khá công phu này, xem ra cuộc chiến thu mua ca cao hạt lên men tại thị trường Việt Nam chỉ mới trong giai đoạn bắt đầu. Do đó, nếu không có sự chuẩn bị chắc chắn thì câu chuyện thị phần chia ba giữa các DN ngoại sẽ không còn quá xa ở tương lai.

Giới thiệu với bạn về vấn đề buông tay phải, nắm tay trái


Theo ông Nguyễn Việt Cường, Giám đốc Công ty CP In bao bì và tem nhãn chống hàng giả Quốc tế, có đến gần 50% DN đang chọn giải pháp sống và xoay xở bằng nghề tay trái. Bởi với tình hình hiện nay, để tiếp tục ngành nghề chính, DN sẽ bị cuốn tiếp vào vòng xoay vốn và nợ.

Ông Nguyễn Đức Thuấn, Giám đốc Công ty CP Đầu tư và Sản xuất giày Thái Bình, cho biết, mặc dù thế mạnh của Thái Bình là sản xuất và kinh doanh giày nữ, giày thể thao, giày vải và giày trẻ em các loại, thế nhưng từ năm 2011, Thái Bình đã phát triển thêm lĩnh vực may túi xách xuất khẩu.
Giải thích về việc rẽ hướng này, ông Thuấn tiết lộ là do xuất phát từ nhu cầu thị trường: “Ngay từ năm 2011, hoạt động của ngành giày nói chung cũng bị ảnh hưởng ít nhiều từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới cũng như việc áp thuế chống bán phá giá tại Liên minh Châu Âu (EU), lẫn sự sụt giảm tại thị trường Mỹ. Sự khó khăn này không chỉ diễn ra ngày một ngày hai, trong khi khách hàng lại đang có nhu cầu về mặt hàng túi xách. Khách hàng có vốn, mình gia công, do đó, đây chính là thời cơ mà DN khó bỏ qua”.

Xét về quy mô lẫn giá trị hợp đồng từ thương vụ mà Thái Bình và Coach hợp tác lên đến con số triệu USD thì đây quả là mối hời mà DN này đạt được. Bởi, thực tế, con số DN may mắn và bản lĩnh như Thái Bình đến giờ phút này trong ngành giày chưa đếm hết trên đầu ngón tay.
Trên thực tế, việc DN chuyển đổi sang sản xuất mặt hàng khác đôi lúc khiến DN phải thay đổi gần như toàn bộ hệ thống, hoặc một phần máy móc mới phù hợp với việc sản xuất sản phẩm mới. Song, DN vẫn chấp nhận để sống còn hơn là chịu chết.
Chính nhờ sự xoay chuyển phù hợp và kịp thời mà nhiều DN cũng tạm vượt qua được nguy cơ trước mắt. Tuy nhiên, cũng không ít cảnh báo về những nguy cơ khi DN “nhảy cóc” kinh doanh trái ngành nghề.

Theo ông Nguyễn Việt Cường, Giám đốc Công ty CP In bao bì và tem nhãn chống hàng giả Quốc tế, có đến gần 50% DN đang chọn giải pháp sống và xoay xở bằng nghề tay trái. Bởi với tình hình hiện nay, để tiếp tục ngành nghề chính, DN sẽ bị cuốn tiếp vào vòng xoay vốn và nợ.
Do đó, chuyển hướng là cách thoát ly tốt nhất mà các DN nên chọn. Mặc dù vậy, không phải 100% DN chuyển hướng kinh doanh ngành nghề khác đều ổn cả. Vậy nên, vấn đề thành bại lại một lần nữa tùy thuộc vào khả năng của từng DN.

Tuy nhiên, cũng có DN chọn giải pháp thu gọn bộ máy để tập trung phát triển nghề mới song hành cùng nghề cũ, cụ thể như Công ty CP Đông Hưng, DN có thế mạnh nhất nhì trong ngành da giày Việt Nam.
Thế nhưng, thời gian tới, thay vì chỉ gia công xuất khẩu, Đông Hưng đang chuẩn bị để trình làng thị trường cửa hàng trưng bày sản phẩm giày Đông Hưng thuần Việt Nam với chất lượng quốc tế vào đầu năm 2013.
Lối đi này chẳng khác mấy so với hướng phát triển của Công ty Minh Long 1, khi Minh Long cũng đã trình làng những sản phẩm độc đáo nhất của Minh Long trên thị trường Việt nói chung và TP.HCM nói riêng, thay vì chỉ sản xuất đơn thuần.
Bên cạnh đó, đại diện một DN đang hoạt động trong lĩnh vực cơ khí cũng chia sẻ, DN đang lên kế hoạch để dốc toàn lực và vốn vào thị trường ô tô bằng hình thức mở đại lý phân phối xe ô tô. Nói về lý do chuyển đổi, vị này cho hay, giờ còn chút vốn, nếu tiếp tục kinh doanh ngành truyền thống trước nay sẽ không có lối thoát, thôi thì chọn đại “canh bạc” mới, hy vọng tình hình sẽ ổn hơn.

Chia sẻ cùng bạn về cuộc chiến "take away": Âm thầm và khốc liệt

Trong khi Kinh Đô Bakery, Hỷ Lâm Môn, ABC… tìm cách cải tiến, “thêm bớt” các dịch vụ của mình nhằm phục vụ tốt hơn cho nhu cầu khách hàng thì Tour les jour luôn nườm nượp khách hàng, ngày càng chiếm được cảm tình của người tiêu dùng. Thương hiệu BreadTalk đến từ Singapore cũng không chịu kém cạnh với gần chục cửa hàng trên địa bàn TP.HCM.
Không chỉ các thương hiệu nội địa, cuộc chiến “take away” có sự tham chiến khốc liệt từ các thương hiệu nước ngoài.
Nội chiến gay cấn
Ra đời trước, nhưng Passion chỉ thực sự trỗi dậy khi có sự xuất hiện của Effoc
“Coffee to go” là một trong những hình thức tiên phong trong mô hình kinh doanh “take away”. Nổi bật là hai tên tuổi đang cạnh tranh khốc liệt: Passio và Effoc. Vốn ra đời từ những năm trước đó, Passion vẫn “lẹt đẹt” không được nhiều người biết đến. Đến khi Effoc xuất hiện vào thời điểm chín muồi của thị trường “take away”, Passio bắt đầu trỗi dậy. Vốn có nguồn tài chính mạnh, Passio nhanh chóng mở ra hàng loạt các cửa hàng với hình ảnh bắt mắt, quân bình tỷ số về lượng cửa hàng tại TP.HCM. Passio nhanh chóng “vươn dài” ra thị trường miền Bắc với 1 cửa hàng tại thành phố Hà Nội.
Sinh sau đẻ muộn nhưng Effoc nhanh chóng chiếm cảm tình của các bạn trẻ Việt với lượng khách hàng lớn, chỉ cần dựa vào số thành viên tham gia fanpage của Effoc có thể nhận ra điều đó. Fanpage Effoc có số lượng fan gấp 6 lần so với fanpage của Passio, đồng thời giá cả của Effoc cũng rẻ hơn nhiều so với đối thủ của mình.
Nhưng Passio không hề chịu thua khi đang triển khai chương trình bốc thăm may mắn trúng thưởng Ipad tại các điểm bán của mình để thu hút lượng khách hàng. Cuộc chiến “ngang tài, ngang sức” này khiến các marketers luôn phải chú ý theo dõi. Ngoài ra, cả hai thương hiệu này vẫn còn cạnh tranh bởi hàng loạt các thương hiệu “coffee to go” nhỏ lẻ khác ra đời. Đối thủ tiềm năng cũng có, đối thủ không cân sức cũng có, nhưng dù thế nào đi nữa thì cũng khiến hai đại gia này phải chú ý.
Với sự phát triển mạnh mẽ của internet, nhiều sản phẩm kinh doanh mới được các nhà đầu tư tiếp thu và học hỏi. Các cửa hàng donut, cupcake mọc lên ngày càng nhiều. Xu hướng kinh doanh “cupcake to go” cũng là một mô hình báo hiệu sẽ nở rộ trên thị trường. Các cửa hàng cupcake nhỏ xinh xuất hiện dần ở các tuyến đường trung tâm thành phố.
“Ngoại xâm” đông đảo
Các cửa hàng Tour les jour luôn đông khách
Kinh tế mở cửa khiến các thương hiệu nổi tiếng cũng dần xuất hiện tại Việt Nam. Thương hiệu Subway xuất hiện chưa được bao lâu tại tòa nhà Kumho Asiana đã nhanh chóng mở thêm 2 cửa hàng tại TP.HCM cho thấy rõ chiến lược nhanh mạnh của thương hiệu này.
Tin đồn về thương hiệu nổi tiếng khắp thế giới Starbucks sẽ xuất hiện vào cuối năm nay khiến các “tín đồ cafe” mong ngóng. Có lẽ khi Starbucks xuất hiện sẽ làm thay đổi khá nhiều cục diện trong thị trường “coffee to go” tại Việt Nam này. Chưa kể các thương hiệu nội địa hiện tại vẫn còn đang cạnh tranh gắt gao với các thương hiệu nước ngoài đang có tại Việt Nam như: Gloria Jeans, Coffee Bean and the tea leaf...
Trong khi Kinh Đô Bakery, Hỷ Lâm Môn, ABC… tìm cách cải tiến, “thêm bớt” các dịch vụ của mình nhằm phục vụ tốt hơn cho nhu cầu khách hàng thì Tour les jour luôn nườm nượp khách hàng, ngày càng chiếm được cảm tình của người tiêu dùng. Thương hiệu BreadTalk đến từ Singapore cũng không chịu kém cạnh với gần chục cửa hàng trên địa bàn TP.HCM.
Thương hiệu VietMac với ước mơ xây dựng riêng một thương hiệu thức ăn nhanh Việt có lẽ cũng lao đao với hàng loạt thương hiệu thức ăn nhanh đã có trước đó như: KFC, Lotteria, BBQ Chicken...
Huynh đệ tương… tác
Lợi thế độc tôn của các thương hiệu Việt Nam chính là chính sách giá. Các nhà kinh doanh Việt Nam với óc nhanh nhạy có thể học hỏi nhanh các công nghệ nước ngoài nên họ hoàn toàn có thể làm ra một sản phẩm - dịch vụ tốt với một giá cả phải chăng. Chính vì thế, nếu so sánh về giá cả theo cách sống tiết kiệm của người tiêu dùng Việt Nam, thì các thương hiệu nội địa này luôn được lựa chọn.
VietMac đang ở trong cuộc chiến cam go với các "ông lớn" như KFC, Lotteria...
Nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng của người Việt lẽ dĩ nhiên người Việt sẽ nắm rõ hơn. Các nhà đầu tư, thương hiệu nước ngoài có thể sẽ không bằng các nhà kinh doanh Việt Nam. Và họ - những con người kinh doanh nhỏ (hơn nhiều so với các thương hiệu lớn trên thế giới) sẽ có sự thay đổi một cách linh động hơn trước biến đổi của thị trường so với các đại gia lớn của thế giới.
Với nguồn vốn nhàn rỗi dồi dào, một mô hình kinh doanh mới xuất hiện và thành công thì sẽ có hàng loạt các cửa hàng kinh doanh sản phẩm - dịch vụ tương tự mọc ra. Mô hình “take away” cũng không ngoại lệ. Với 1 năm nở rộ “take away” thì tại TP.HCM đã có đến hàng trăm cửa hàng “take away” nhỏ ra đời.
Chính từ các yếu tố trên vô tình là những cái “bắt tay” hiệp lực giữa những thương hiệu nội địa. Các thương hiệu này chính là những con sao biển, tuy nhỏ nhưng có thể phát triển nhân bản một cách nhanh chóng chính là đối thủ đáng gờm của những thương hiệu ngoại nhập.

Chia sẻ cùng bạn về "Mánh lừa" của thương lái Trung Quốc: Cũ vẫn thắng

Như trước đây, khi các cơ quan đứng ra môi giới cho doanh nghiệp Việt Nam mua hàng của nông dân với giá ổn định thì khi thấy giá tăng, nông dân sẵn sàng phá hợp đồng với doanh nghiệp, bán cho thương nhân Trung Quốc. Thậm chí khi thấy thu mua ồ ạt, nông dân sẵn sàng bỏ cả trồng lúa, trồng rau đổ xô đi trồng khoai, làm thạch dừa,...
Chỉ trong vòng nửa đầu năm 2012, đã không ít lần doanh nghiệp và người nông dân Việt Nam phải “nếm trái đắng” khi buôn bán với thương nhân Trung Quốc.
Thua lỗ trước mắt
Đầu tiên là vấn đề xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc - đối tác nông sản hàng đầu của Việt Nam. Chỉ trong vòng hơn một tháng vừa qua, đã có tới bốn sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam "dính đòn" khiến giá giảm thê thảm là khoai lang, dứa, gạo và dừa. Các sự việc xảy ta đều theo một mô - típ chung là thao túng - mua một phần - ngừng mua - mua lại và ép giá.
Ban đầu, các thương nhân Trung Quốc thu mua ồ ạt, họ đặt trạm gom hàng nông sản khiến nhu cầu tăng đột biến, giá nông sản tăng nhanh. Các doanh nghiệp trong nước không cạnh tranh được và đành chịu thiếu nguyên liệu sản xuất. 

Sau khi đã thao túng được thị trường và nhận một phần sản phẩm, tất cả thương nhân Trung Quốc bắt đầu hạn chế và dừng mua đột ngột khiến giá giảm nhanh chóng. Đến khi giá giảm rất thấp thì họ bắt đầu quay trở lại ép giá thấp hơn nữa và bắt đầu thu mua.
Họ tự đặt ra các tiêu chuẩn "kì lạ" để có lý do ép giá nhiều hơn (ví dụ khoai lang củ to không mua, bắt phải giảm giá). Và điều éo le nhất đó là người nông dân Việt Nam gần như không có cách nào để kháng cự lại, nếu càng cố giữ hàng chờ giá lên, thì lại càng bị ép giá nặng.
Như trường hợp khoai lang tím, sau khi giá giảm chỉ còn 300.000 đồng/tạ, nông dân đã chủ động kéo dài thời gian thu hoạch, khoai lớn củ hơn nhưng giá lại bị ép xuống còn 250.000 đồng/tạ. 

Chỉ với một thủ đoạn lặp đi lặp lại, các thương nhân Trung Quốc đã có thể ép giá dứa giảm hơn một nửa, khoai lang tím giảm tới 70%, và giá dừa thậm chí giảm đến 90%, còn gạo thì đang giảm giá liên tục và vẫn loay hoay tìm kiếm thị trường thay thế.
Nhờ thao túng được thị trường, thương nhân Trung Quốc có thể thoải mái lưa chọn các sản phẩm tốt nhất với giá thấp nhất. Trong bối cảnh an ninh lương thực đang bất ổn do mất mùa và giảm sút các nguồn dự trữ toàn cầu khiến giá lương thực có thể tăng từ 10% - 20% thì việc nông dân Việt Nam phải chịu lỗ nặng khi buôn bán nông sản và lương thực với Trung Quốc là hoàn toàn vô lý.
Đó là các thiệt hại trực tiếp cho nông dân, còn đối với các doanh nghiệp cần hàng sản xuất thì thiệt hại lại đau đớn hơn nhiều khi nguồn cung nguyên liệu của thị trường rất lớn nhưng họ lại không thể mua được và phải sản xuất dưới công suất do không thể cạnh tranh thu mua với thương lái Trung Quốc.
Trong lúc doanh nghiệp rất cần nguyên liệu sản xuất thì các trạm thu gom nông sản của Trung Quốc lại hút hết nguồn hàng với giá cao hơn nhiều, doanh nghiệp Việt Nam lại không thể tăng giá thu mua đầu vào do giá xuất khẩu không tăng, vì vậy đành phải sản xuất dưới công suất của nhà máy. Nhưng khi giá giảm và thương lái Trung Quốc quay trở lại thì doanh nghiệp cũng không thể tiếp tục mua do đã có đủ nguyên liệu và sản xuất đủ thành phẩm đầu ra, nếu mua vào thêm cũng không thể kiếm được người mua và hàng hóa sẽ ứ đọng.
Sụp đổ sản xuất trong tương lai
Đơn cử như việc gần đây người dân tự sản xuất thạch dừa hàng loạt, không theo quy trình đảm bảo chất lượng sẽ khiến cho uy tín của mặt hàng thạch dừa Bến Tre bị ảnh hưởng nghiêm trọng, gây ảnh hưởng lớn đến các doanh nghiệp sản xuất thạch dừa và cả ngành xuất khẩu thạch dừa Việt Nam.
Cộng thêm việc thương lái Trung Quốc ép giá thê thảm với dừa có thể khiến người dân phải bỏ trồng dừa, lúc này, ngành sản xuất thạch dừa của tỉnh sẽ khó có thể phục hồi được.
Hơn nữa, thương nhân Trung Quốc hiện bao tiêu đến 90% thạch dừa trong tỉnh nên họ toàn quyền quyết định giá cả, sản lượng và thậm chí là chất lượng, nếu họ bỏ đi, cả ngành xuất khẩu sẽ sụp đổ do không tìm được thị trường thay thế.
Còn đối với gạo, không chỉ ép giá thông thường, thương nhân Trung Quốc còn yêu cầu người nông dân trộn gạo trắng với gạo thơm để họ có thể gian lận, tăng lợi nhuận. Việc làm này chỉ mang lại một chút lợi nhuận, nhưng lại gây ra thiệt hại rất lớn cho uy tín gạo xuất khẩu của Việt Nam.
Đây không phải là năm đầu tiên các sản phẩm của Việt Nam "dính đòn" hàng loạt, mà từ nhiều năm trước thương nhân Trung Quốc đã tận dụng những cách này để thu lợi cho họ, trong khi gây ra thiệt hại rất lớn cho ta. Vậy tại sao nông dân ta vẫn "mắc bẫy"?
Nguyên nhân đầu tiên là do sự gần gũi về địa lý và truyền thống buôn bán lâu đời đã giúp buôn bán tiểu ngạch giữa hai nước phát triển. Hình thức này rất thuận tiện cho cả hai bên nhưng do Việt Nam không thể quản lý và kiểm soát tốt hoạt động của thương nhân Trung Quốc nên mới dẫn đến việc thương nhân Trung Quốc có thể thoải mái thao túng và ép giá thị trường nông sản của ta.
Tuy nhiên, lỗi lớn nhất lại thuộc về chính những doanh nghiệp và nông dân Việt Nam đã ham cái lợi trước mắt, chạy theo các nhu cầu ảo mà thương nhân Trung Quốc tạo ra, khiến cho tình hình càng thêm bất ổn.
Như trước đây, khi các cơ quan đứng ra môi giới cho doanh nghiệp Việt Nam mua hàng của nông dân với giá ổn định thì khi thấy giá tăng, nông dân sẵn sàng phá hợp đồng với doanh nghiệp, bán cho thương nhân Trung Quốc. Thậm chí khi thấy thu mua ồ ạt, nông dân sẵn sàng bỏ cả trồng lúa, trồng rau đổ xô đi trồng khoai, làm thạch dừa,...
Không chỉ dừng lại ở đó, các doanh nghiệp và người nông dân còn sẵn sàng tiếp tay cho phía Trung Quốc gian lận để đổi lấy một chút lợi ích, không biết rằng chính họ đang phá đi uy tín của cả ngành sản xuất, ảnh hưởng tới lợi ích lâu dài của nhiều người khác.
Một vấn đề nữa là quy mô sản xuất gạo và các sản phẩm nông nghiệp khác của chúng ta còn theo hướng manh mún, nhỏ lẻ. Người nông dân không đủ vốn thường phải mượn ngân hàng và chỉ muốn sớm bán được nông sản. Cho nên, dù bị ép giá vẫn phải bán gấp để thu hồi vốn trả nợ cho ngân hàng và tái sản xuất, chưa kể là người nông dân không liên kết được với nhau nên bị thao túng hoàn toàn và gần như không có cách nào để giải quyết.
Nguyên nhân cuối cùng cần nhắc tới là liên kết giữa các cơ quan, ban ngành và người nông dân, doanh nghiệp còn yếu nên chúng ta không thể phối hợp hoạt động hiệu quả để chống lại sự thao túng thị trường của phía Trung Quốc.
Nông dân và doanh nghiệp không được thông tin chính xác và kịp thời nên càng loay hoay, lo sợ khi bị thao túng. Càng cố bán gấp càng khiến giá giảm nhanh và càng dễ bị thương nhân Trung Quốc ép giá.
Liên kết yếu cũng khiến cho các cơ quan, ban ngành không thể kiểm soát được chất lượng của hàng sản xuất trong nước và khó khăn trong tìm kiếm thị trường mới. Khi không thể tìm ra các nguồn mua thay thế khác, cũng không thể liên kết giữ hàng chờ giá tăng thì việc bị thao túng là điều dễ hiểu.

Tìm hiểu nguyên nhân làm hết thời nước mắm ủ trong thùng...

Tại nhiều doanh nghiệp sản xuất nước mắm truyền thống thuộc hội Nước chấm TP.HCM, tổng đầu tư cho quảng cáo tiếp thị luôn dưới 5%/doanh thu, có nơi chỉ chừng 1%, khá thấp so với doanh nghiệp kinh doanh nước mắm công nghiệp dành tới 20% cho nhãn hàng cũ và 50% cho nhãn hàng mới.
Số liệu từ một số nhà sản xuất nước mắm đứng đầu thị trường Việt Nam, doanh số thị trường nước mắm năm 2011 vào khoảng 8.000 tỉ đồng, với chừng 200 triệu lít các loại.
Trong đó nước mắm công nghiệp, hầu hết được đóng chai với nhãn mác rõ ràng, đã chiếm tỷ lệ hơn 50%.
Nhiều quầy chạp phô ở các chợ hiện nay, không thể thấy nước mắm nhỉ hay nước mắm loại ngon đóng chai thuỷ tinh, chai nhựa từ Phan Thiết chuyển vào nữa, mà trên quầy chỉ bày toàn nước mắm đóng chai có nhãn mác đầy đủ.
Số liệu thống kê mới nhất do một nhà sản xuất nước mắm có quy mô cả triệu lít/tháng vừa hoàn tất trong tháng 6/2012, quy mô thị trường nước mắm công nghiệp hiện đã lên đến 12 triệu lít/tháng, gần 150 triệu lít/năm.
Masan chiếm thị phần áp đảo với khoảng 65%, các nhãn hiệu khác đứng sau Masan, có thị phần ở mức từ 1 – 5% gồm Hưng Thịnh, Đệ Nhất, Hồng Hạnh, Mười Thu, Liên Thành, Micoem, 584 Nha Trang, Thanh Hà…
Đáng chú ý, nước mắm công nghiệp từng quảng cáo khá mạnh như Kabin (công ty Hồng Phú) và Knorr (của Unilever) không còn nằm trong top 10 của thống kê này.
Thống kê nêu trên cũng chỉ ra sự thay đổi trong cách dùng nước mắm ở các gia đình thành thị và nông thôn. Cụ thể các gia đình gần như không còn mua nước mắm không nhãn mác.
Trong các gia đình thường có hai loại nước mắm, ở gia đình thành thị dùng nước mắm độ đạm cao – thương hiệu nổi tiếng để chấm (ăn sống) và dùng nước mắm có độ đạm thấp – giá thấp hơn để nấu ăn, ở gia đình nông thôn dùng nước mắm đóng chai đẹp – có thương hiệu để chấm và nước mắm giá rẻ (loại hàng xá, thương hiệu nhỏ địa phương) để nấu ăn.
Thói quen tiêu dùng thay đổi
Vị chuyên gia phụ trách chương trình khảo sát thống kê trên cho biết thêm: “An toàn vệ sinh thực phẩm đang trở thành yếu tố quan trọng nhất với người tiêu dùng, nên cũng là nội dung chính cho tất cả các thông điệp quảng cáo tiếp thị của các nhà cung cấp nước mắm”.
Thói quen dùng nước mắm có pha gia vị và phụ gia thực phẩm xuất hiện theo nhu cầu cần nước chấm tiện dụng (không cần pha chế lại), ít mặn và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm của người tiêu dùng.
Loại nước mắm công nghiệp kiểu mới này không chỉ có muối, cá và nước, mà còn có hương liệu, chất tạo màu, chất điều vị, chất bảo quản… với công nghệ sản xuất kiểu mới.
Chính sự thay đổi thói quen tiêu dùng và sự trưởng thành của lớp người trẻ – với hơn 40 triệu người ở độ tuổi dưới 45, đã tạo nên sự sôi động cho thị trường nước mắm.
Nhu cầu nước mắm dịu ngọt và an toàn lan rộng cùng với cú hích của nước mắm Chin-su (thuộc tập đoàn Masan) từ năm 2006. Bằng các chiêu thức quảng cáo tiếp thị kết hợp với biện pháp phủ sóng thị trường bằng kênh phân phối, nước mắm Chin-su đã nhanh chóng trở thành loại có lượng tiêu thụ lớn nhất thị trường Việt Nam trong một thời gian kỷ lục: sáu tháng.
Nhiều thương hiệu mới khác theo xu hướng này cũng tham gia thị trường như Nam Ngư, Đệ Nhất, Kabin, Micoem… và tăng sản lượng nhanh chóng chỉ trong vài tháng. Ngay cả các hãng nước mắm truyền thống cũng phải sản xuất loại có pha gia vị để tham gia thị trường.
Sức mạnh truyền thông
Ba ưu thế khiến nước mắm công nghiệp được người tiêu dùng mua nhiều hơn nước mắm truyền thống chính là giá cả, an toàn vệ sinh thực phẩm và chính sách truyền thông.
Chẳng hạn chai nước mắm công nghiệp hiện nay giá khoảng 13.000 – 20.000 đồng/chai, so với nước mắm truyền thống cùng dung tích là 22.000 – 30.000 đồng/chai.
Ở đây, sự khác biệt về độ đạm, sự có mặt của gia vị và hương liệu dường như người tiêu dùng trẻ không chú ý và không quan tâm nhiều bằng quy trình công nghệ chế biến đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.
Chính sách truyền thông mạnh là yếu tố đẩy nước mắm công nghiệp tăng tốc nhanh chóng. Ông Nguyễn Quốc Hùng, phó giám đốc công ty nước mắm Hạnh Phúc, nhìn nhận: “Ngành nước mắm có doanh nghiệp mấy chục năm, có doanh nghiệp cả trăm năm, nhưng vẫn chỉ bán được sản lượng nhỏ, chỉ vì thiếu đầu tư cho quảng cáo tiếp thị, không có chiến lược kinh doanh bài bản…”
Tại nhiều doanh nghiệp sản xuất nước mắm truyền thống thuộc hội Nước chấm TP.HCM, tổng đầu tư cho quảng cáo tiếp thị luôn dưới 5%/doanh thu, có nơi chỉ chừng 1%, khá thấp so với doanh nghiệp kinh doanh nước mắm công nghiệp dành tới 20% cho nhãn hàng cũ và 50% cho nhãn hàng mới.
Bà Ngô Thị Hoàng Mai, phó giám đốc công ty Liên Thành cho biết, hầu hết các nhà sản xuất nước mắm truyền thống đều đi lên từ doanh nghiệp nhỏ, nên thiếu kinh phí, thiếu kinh nghiệm để thực hiện các chiến dịch quảng bá, tuyên truyền rầm rộ như các tập đoàn Masan, Acecook.
Mới đây, trong tháng 6/2012, Liên Thành tung ra nước mắm chay làm từ nước cốt trái thơm, sản phẩm mới, lạ và có nét riêng, nhưng không có kinh phí lớn để quảng cáo nên người tiêu dùng vẫn chưa biết đến rộng rãi.
Vấn đề của các nhà cung cấp nước mắm công nghiệp là phải đảm bảo sự trung thực của thông điệp “an toàn” – vốn đã giúp họ chiếm lĩnh thị trường, tránh các xìcăngđan như từng xảy ra với các nhà sản xuất thực phẩm chế biến công nghiệp.
Còn nước mắm theo hương vị truyền thống, cũng cần được chuẩn hoá quy trình sản xuất, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, bởi sản phẩm vẫn có thị trường.
Bất chấp Chin-su là thương hiệu nước mắm bán chạy nhất, đi siêu thị, bạn vẫn dễ dàng nghe thấy nhận xét: “Chin-su không biết làm nước mắm” từ những người thích hương vị nước mắm truyền thống.

Vì sao xảy ra suy kiệt sức mua?

Theo ông này, lượng thép hằng tháng bán ra chỉ dao động 30.000-40.000 tấn, giảm hơn một nửa so với thời điểm bình thường. Với công suất nchạy máy chỉ còn 60% so với công suất thiết kế, ông cũng thừa nhận khả năng tạm dừng sản xuất sẽ được tính đến nếu lượng hàng tồn hàng chục ngàn tấn thép vẫn chưa được giải phóng trong thời gian tới.
Người tiêu dùng băn khoăn khi chỉ số giá tiêu dùng được công bố là giảm nhưng giá ở chợ chưa thấy giảm. Doanh nghiệp lo lắng. Chuyên gia kinh tế nhận định giá vẫn ở mức cao và cần theo dõi để có biện pháp xử lý kịp thời.
Sau 38 tháng tăng liên tục, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng 6/2012 đã giảm 0,26% so với tháng trước. Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng đó là do sức mua của người dân đang dần cạn kiệt, doanh nghiệp đình đốn.
Mặc dù chỉ số giá nhóm lương thực, thực phẩm (chiếm số lớn trong rổ hàng hóa tính CPI) giảm lần lượt 0,78% và 0,31% nhưng trên thị trường, nhiều mặt hàng thuộc các nhóm ngành này vẫn tăng giá hoặc giữ giá ở mức cao.
Giảm ít, tăng nhiều
Kinh tế khó khăn khiến người tiêu dùng phải cân nhắc khi mua hàng
Trái với diễn biến chỉ số giá cả thực phẩm, nhiều người tiêu dùng cho biết chi phí đi chợ hầu như chưa giảm. Theo chị Nguyễn Thị Mùi (Q.Tân Bình, TP.HCM), tháng trước chỉ 3.500 đồng là mua được 100g hành, nay lên 3.800 đồng, hành tây từ 7.000 đồng lên 10.000 đồng/kg...
“Đọc báo nghe nói chỉ số giá hàng thực phẩm giảm, nhưng có đi chợ mới thấy xót ruột với giá cả, cái gì cũng tăng chứ có thấy giảm đâu...” - chị Mùi nói.
Chẳng hạn, cuối tháng trước bắp cải Đà Lạt còn 8.000 đồng/kg, nay lên 10.000 đồng/kg, cải thảo Đà Lạt tăng từ 8.000 đồng/kg lên 12.000 đồng/kg, xà lách Đà Lạt tăng thêm 3.000 đồng/kg...
Chị Bảo Hân (Q.Bình Thạnh) cũng cho biết hầu hết các mặt hàng thực phẩm tươi sống đều vẫn giữ giá so với cuối tháng trước, nhưng vẫn có một số mặt hàng như cá thu, cá chẽm tăng thêm 10.000-15.000 đồng/kg. “Hỏi thì họ cho biết cá về chợ sụt giảm nên giá phải tăng, thích thì mua, không thì thôi...” - chị Hân nói.
Trong khi đó theo các tiểu thương, một số loại gạo có thương hiệu thậm chí còn tăng giá. Bà Thảo, chủ vựa gạo Thu Thảo ở chợ Bà Chiểu, cho biết: “Chỉ một số loại gạo mới giảm giá nhẹ, còn gạo cũ đã có thương hiệu không những không giảm mà còn tăng. Chẳng hạn, trong tháng 6/2012 giá gạo Nàng Hương (chợ Đào) đã tăng thêm 1.000 đồng/kg”.
Ghi nhận tại các chợ đầu mối ở TP.HCM cho thấy tháng 6/2012 hầu hết các mặt hàng thực phẩm, từ rau củ đến thịt, cá đều giữ giá, một số thậm chí còn tăng giá so với cuối tháng 5/2012. 
Giá có giảm cũng ít người mua
Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng trong sáu tháng đầu năm. Trong ảnh: người chăn nuôi gặp khó do sức mua yếu -Nguồn: Tổng cục Thống kê - Đồ họa: Vĩ Cường - Ảnh: Ngô Thiên Phúc
Trong khi thực phẩm tại các chợ vẫn “neo” giá hoặc tiếp tục tăng, các chủ trại chăn nuôi cho biết giá đầu ra sản phẩm giảm mạnh, giá heo hơi tại trại hiện chỉ còn 44.000 đồng/kg, gà tam hoàng đã giảm 4.000 đồng/kg. Không chỉ bị thua lỗ, nhiều chủ trang trại cho biết đang đau đầu vì đầu ra khó khăn, bán lỗ nhưng không dễ tiêu thụ được.
Ông Văn Đức Mười, Tổng giám đốc Công ty Vissan, cho biết sức mua trên thị trường đang rất kém, ngay cả có giảm giá thì sức cầu cũng không tăng. Trong sáu tháng đầu năm 2012, theo ông Mười, sản lượng thịt kinh doanh trên toàn hệ thống Vissan chỉ bằng 94% so với cùng kỳ năm 2011.
Tương tự, ông Trần Cao Sơn, phụ trách kinh doanh gia cầm của Công ty TNHH Thanh Bình (Đồng Nai), cũng khá lo lắng khi cho rằng hoạt động chăn nuôi không chỉ bị ảnh hưởng nặng bởi giá giảm, mà sức cầu thấp cũng gây lo ngại cho người chăn nuôi.
Cũng ăn ngủ không ngon là giới kinh doanh vật liệu xây dựng. Ông M.V.T., đại lý phân phối một loạt thương hiệu ximăng và thép xây dựng ở TP.HCM, cho biết lượng ximăng bán ra trong tháng 6/2012 chỉ 7.000-8.000 tấn, giảm 20% so với tháng trước và giảm đến 2/3 so với đầu năm nay. Thép chỉ bán được 600 tấn trong tháng 6/2012, cũng giảm gần 2/3 so với các tháng trước.
Theo ông Nguyễn Văn Thiện - Chủ tịch Hiệp hội Xi măng VN, sáu tháng đầu năm 2012, lượng ximăng tiêu thụ được đã giảm 1,5 triệu tấn so với cùng kỳ năm ngoái.
Hàng tồn kho chưa giải phóng được, trong khi việc tiếp cận vốn vay vẫn khó khăn “Có ít nhất 20-30% doanh nghiệp phải tiết giảm năng lực sản xuất” - ông Thiện nói.
“Sức mua ngành vật liệu xây dựng đã tê liệt một thời gian rất dài, đến bây giờ mới ngấm sâu hơn và thật sự sẽ rất khó hồi phục nếu không có các biện pháp kích cầu kịp thời” - phó tổng giám đốc một doanh nghiệp trong ngành thép nhận định.
Theo ông này, lượng thép hằng tháng bán ra chỉ dao động 30.000-40.000 tấn, giảm hơn một nửa so với thời điểm bình thường. Với công suất nchạy máy chỉ còn 60% so với công suất thiết kế, ông cũng thừa nhận khả năng tạm dừng sản xuất sẽ được tính đến nếu lượng hàng tồn hàng chục ngàn tấn thép vẫn chưa được giải phóng trong thời gian tới.
Chưa vội lạc quan với CPI
Nhìn vào chỉ số CPI tháng 6/2012, chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng có điểm lạc quan nhưng cũng không ít điểm đáng lo ngại. Trong rổ hàng hóa, nhóm giao thông giảm 1,64% là kết quả của nhiều lần liên tiếp giảm bán lẻ xăng dầu. Nhờ đó các sản phẩm, dịch vụ khác chịu tác động trực tiếp hoặc gián tiếp bởi giá xăng dầu có điều kiện để giảm theo.
Đây là tín hiệu khá lạc quan trong cuộc chiến chống lạm phát. “Tuy nhiên, chỉ số giá ở mức âm, đặc biệt ở các nhóm hàng tiêu dùng thiết yếu là biểu hiện của tình trạng tổng cầu sụt giảm, đại đa số người tiêu dùng đang cạn kiệt sức mua. Điều này kéo dài là rất đáng lo ngại” - ông Doanh nhấn mạnh.
Tuy nhiên theo ông Doanh, việc CPI về mức âm cũng là dấu hiệu ban đầu của giảm phát. Nếu CPI chỉ âm trong tháng 6 này thì không đáng lo ngại. Nhưng nếu trong 1-2 tháng tới tình hình vẫn tiếp tục như vậy nghĩa là nền kinh tế đã rơi vào giảm phát.
Tương tự, TS Ngô Trí Long, nguyên phó viện trưởng Viện Nghiên cứu khoa học thị trường giá cả, cho rằng khi CPI giảm, người dân sẽ mừng vì họ được mua hàng hóa với giá “mềm” hơn. Tuy nhiên, cần xem xét tác động từ CPI giảm lên cả hai phía người tiêu dùng và nhà sản xuất.
Nhà sản xuất sẽ không vui vẻ gì trước diễn biến hiện nay của CPI. Bởi thực chất việc chỉ số giá giảm không phải là do chất lượng hàng hóa giảm mà do hàng tồn kho quá nhiều, doanh nghiệp buộc phải chịu lỗ, đẩy hàng ra bằng cách giảm giá, có nơi giảm đến cả 50% so với giá lúc thông thường.
“CPI chỉ mới giảm trong một tháng nên chưa thể gọi là giảm phát. Nhưng mấy tháng gần đây chỉ số CPI đã liên tục diễn biến theo chiều hướng mức tăng của tháng sau thấp hơn tháng trước, nay lại về âm thì rất cần phải thận trọng. Để xảy ra giảm phát sẽ gây ra những tác hại vô cùng lớn. Sản xuất đình trệ, doanh nghiệp phải sa thải công nhân. Kinh tế rơi vào suy thoái...” - ông Long nói. 
Tiến sĩ Vũ Đình Ánh (Viện Kinh tế - tài chính, Bộ Tài chính):
Không đáng lo ngại
Chuyện CPI âm không ngoài dự đoán và không có gì là ngạc nhiên cả. Dự báo, CPI các tháng tiếp theo của quý 3 cũng có thể sẽ âm. CPI từ đầu năm đến nay tăng thấp và hiện tại mới chỉ CPI tháng 6 âm nên kinh tế đang có biểu hiện của giảm phát. Còn nếu CPI giảm liên tục trong nhiều tháng thì lúc đó kinh tế mới lâm vào tình trạng thiểu phát.
Chỉ số giá cả âm có đáng lo ngại không? Xét về mặt con số thì không có gì đáng lo ngại cả. Vì từ tăng thấp đến giảm nhẹ, kéo CPI tính theo năm xuống. Tính theo năm, CPI đến hết tháng 6/2012 so với tháng 6/2011 vẫn tăng 6,9%.
Chỉ số này so với các nước vẫn ở mức cao, nên chưa có gì phải lo ngại về mặt con số cả mà thậm chí vẫn phải kéo xuống nữa. Tính đến thời điểm này, nhìn chỉ số lạm phát có thể nói rằng mục tiêu kiềm chế lạm phát cả năm 2012 dưới một con số là có thể thực hiện được.
Tuy nhiên, mặt lo ngại không phải là kinh tế lâm vào tình trạng thiểu phát mà cần tìm ra nguyên nhân tại sao CPI lại tăng thấp, và đến tháng này là âm. Nguyên nhân cơ bản là tổng cầu tiêu dùng của nền kinh tế suy giảm mạnh.
Do vậy, Chính phủ cần có chính sách kích thích người dân tiêu dùng. Nghĩa là phải tạo được công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động, đồng thời hàng hóa sẽ được tiêu thụ và hoạt động sản xuất sẽ trở lại trạng thái bình thường. Vì đây là vòng tròn khép kín trong hoạt động kinh tế - xã hội, đương nhiên tắc ở một khâu sẽ kéo theo tất cả cùng khó khăn, vướng mắc.
Rất đáng lưu ý trong bối cảnh các bất ổn vĩ mô của nền kinh tế vẫn còn tồn tại và kiềm chế lạm phát đang có dấu hiệu tích cực, nếu các biện pháp kích thích tổng cầu không tốt thì lập tức lạm phát cao có thể quay trở lại.
Kinh tế VN như đang ở trạng thái trên dây, vừa cân bằng được cái này vừa cân bằng được cái kia, nếu không là rơi khỏi dây ngay. Đây là cái khó nhất của năm 2012. Và bài học kinh nghiệm của năm nay là cần nhìn thẳng vào kinh nghiệm năm 2009, sau khi lạm phát tăng thấp thì việc tung ra gói kích thích kinh tế đã đẩy lạm phát của năm 2010 và 2011 tăng vọt lên mức rất cao.

Vì sao có chuyện vàng miếng: Đã hết thời?

“Bao nhiêu năm kinh doanh vàng miếng, giờ chuyển sang nữ trang không đơn giản, nhưng không còn con đường nào khác”, anh Thành, phòng kinh doanh của công ty này cho biết. Công ty đang mời cả những thợ giỏi của ngành kim hoàn nước ngoài về để “chỉ dẫn” khi chuyển hướng sang kinh doanh nữ trang.
Việc Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, quy định giá cả và thu hẹp đối tượng phân phối…, theo nhiều chuyên gia, sẽ khiến loại vàng này không còn sức hấp dẫn.
Liệu vàng miếng có bị rơi vào quên lãng khi nghị định quản lý kinh doanh vàng được thực hiện một cách nghiêm túc?
Gần 1 tháng sau khi Nghị định 24 có hiệu lực, dù có 6 tháng để các công ty, tiệm vàng… chuyển đổi kinh doanh, nhưng thị trường vàng vật chất vẫn ế ẩm chưa từng có.
Ngay cả tại Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC), đơn vị chiếm đến 90% thị phần vàng miếng và nhiều khả năng được lựa chọn làm thương hiệu vàng miếng quốc gia, thì việc buôn bán cũng không còn nhộn nhịp như trước.
Doanh nghiệp đôn đáo chuyển hướng
Theo SJC, từ tháng 4 đến nay, tình hình mua bán vàng miếng tại công ty này hết sức ảm đạm, sức mua đã giảm khoảng 50% so với trước.
SJC đã dọn đường sẵn cho việc chuyển hướng sang kinh doanh nữ trang, coi đây là khâu kinh doanh then chốt, nhưng theo SJC, thị trường mới không phải dễ dàng chinh phục.
“Mấy tháng nay việc buôn bán nữ trang cũng chậm, nếu không muốn nói là yếu, mãi lực không bằng mọi năm”, một lãnh đạo của SJC cho biết.
Mãi lực kém, cạnh tranh không dễ nhưng SJC cho biết vẫn mở rộng quy mô sản xuất, tìm thị trường, tăng các sản phẩm mới cho nữ trang… vì đây là “lối thoát” duy nhất cho công ty này sau “thời vàng son” của vàng miếng.
Ngoài mở rộng thị phần nữ trang trong nước, SJC cũng đang tìm hướng xuất ngoại cho các sản phẩm của mình như tại Thái Lan, Camphuchia và một số nước trong khu vực.
Các “tướng” của SJC thời gian gần đây thường xuyên “vi hành” đến nhiều nước để tìm hướng kinh doanh mới cho công ty.
Tình hình diễn ra tương tự tại nhiều công ty chuyên kinh doanh vàng miếng trước đây. Công ty vàng bạc Kim Phát (Q.6), một công ty lâu năm trong lĩnh vực này cũng đang chuyển sang lĩnh vực nữ trang.
“Bao nhiêu năm kinh doanh vàng miếng, giờ chuyển sang nữ trang không đơn giản, nhưng không còn con đường nào khác”, anh Thành, phòng kinh doanh của công ty này cho biết. Công ty đang mời cả những thợ giỏi của ngành kim hoàn nước ngoài về để “chỉ dẫn” khi chuyển hướng sang kinh doanh nữ trang.
Trong khi đó, các tiệm vàng nhỏ lẻ, trước vẫn bán vàng miếng cùng nữ trang thì nay chỉ còn bán nữ trang. Chị Trang, tiệm vàng Kim Linh (đường Nguyễn Hồng Đào, Q.Tân Bình), cho biết:
 “Trước đây bán cả vàng miếng, vàng nữ trang, hai cái bù qua sớt lại cho nhau, nhưng mấy tháng nay vàng miếng ế quá, giờ phải chú trọng vào nữ trang để tìm lối thoát…”.
Người dân quên vàng!
Cuối tuần qua, giá vàng miếng SJC vẫn từ 41,68 - 41,83 triệu đồng/lượng. Theo quy đổi với giá USD ngân hàng (20.940 đồng/USD), vàng trong nước vẫn cao hơn giá thế giới hơn 2 triệu đồng/lượng.
Nếu như trước đây, chuyện chênh lệch giá vàng với thế giới ở ngưỡng nói trên sẽ khiến cho thị trường vàng vật chất nóng ran, thì nay việc này không thúc đẩy giới đầu tư quay lại với vàng miếng.
Mua, bán trên thị trường vẫn hết sức èo uột. Không thể kiếm lời từ thị trường vàng miếng, nhiều ngân hàng cũng nhanh tay hạ lãi suất huy động vàng, rút bớt cơ cấu kỳ hạn, dù còn 5 tháng nữa mới phải chấm dứt nghiệp vụ này.
Đánh giá về thị trường vàng miếng, một chuyên gia vàng bạc tại SJC cũng thừa nhận “đã hết thời”. Vị này lý giải, sau khi NHNN lấy thương hiệu vàng miếng SJC, người mua vẫn có quyền mua nhưng giá sẽ do NHNN quy định và công bố mỗi ngày.
Còn muốn bán, không phải đi đâu cũng bán được vàng miếng. “Rồi người ta sẽ chán với việc mua thì được, nhưng để đổi được vàng ra tiền thì rất khó. Khi không còn thông dụng nữa thì… thị trường sẽ hết ham”, vị này nói.
Ông Nguyễn Trung Anh, Phó tổng giám đốc Công ty vàng Vina, nhận định: “Vàng miếng thương hiệu quốc gia do NHNN sản xuất sẽ… được quản lý chặt như việc in tiền và việc lưu thông vàng trên thị trường sẽ coi như lưu thông ngoại tệ.
Thế nên, cất trữ thì được nhưng không phải ai cũng được mua, được bán. Tôi cho rằng, sau một thời gian, bước tiếp theo NHNN sẽ cho ra “chứng chỉ vàng”.
Lúc đó, người dân khi mua vàng miếng sẽ không được cầm vàng thật như hiện nay mà sẽ cầm vàng chứng chỉ (một cái giấy chứng nhận sở hữu vàng).
Với thói quen thích sở hữu vàng thật, cầm vàng thật, người dân sẽ không còn thích vàng miếng nữa. Và các thương hiệu vàng miếng sẽ rơi vào quên lãng”.
Giá vàng SJC chỉ trong 1 tuần qua đã giảm 450.000 đồng/lượng, (tương đương giảm 1%). Đây là mức giảm theo tuần mạnh nhất của vàng SJC trong 1 tháng qua. Giá vàng trong nước tuần qua cũng diễn biến cùng chiều với giá vàng thế giới. Giá vàng thế giới tuần qua giảm 54,4 USD/oz (giảm 3,4%), chốt tuần ở 1.566,9 USD/oz. Cuối tuần qua, NHNN đã xin ý kiến UBND TPHCM về việc ban hành quy trình sản xuất vàng miếng, kể cả việc chuyển đổi vàng phi SJC, vàng SJC móp méo, cong vênh.

Khám phá câu chuyện hàng tồn kho: Ám ảnh giảm phát

Ban đầu, Công ty gặp khó khăn vì nhiều khách hàng cho rằng làm như vậy sẽ chiếm nhiều diện tích, khó vệ sinh. Thế nhưng, sau khi công ty triển khai tại TP.HCM và các tỉnh miền Tây thì số lượng cửa hàng đăng ký được trang bị kệ Namilux vượt nhu cầu của công ty. Doanh số bán hàng tăng nhanh và các sản phẩm mới bán mạnh hơn cả những sản phẩm cũ.
Liên Thành khá thành công trong việc đẩy hàng vào chợ
Đẩy hàng vào chợ

Theo chuyên gia thị trường Hồ Minh Chính, trong thời buổi khó khăn hiện nay, chợ truyền thống vẫn là kênh bán hàng hiệu quả nhất cho DN. Ngoài ưu thế về số lượng, ở chợ, phương thức truyền miệng tỏ ra rất hữu dụng, là hình thức quảng cáo không tốn tiền cho DN.
Hơn nữa, quầy kệ ở chợ có sẵn và không tốn tiền thuê nên DN không tốn nhiều chi phí. Lợi thế của chợ là tiếp thị rất dễ vì tiểu thương và Ban quản lý chợ luôn chào đón hàng hóa của DN. Hơn nữa, tiểu thương rất có uy tín với người tiêu dùng.

Ông Văn Đức Mười, Tổng giám đốc Công ty Vissan, cho rằng, kênh phân phối hiện đại chỉ chiếm 18% thị phần của ngành bán lẻ, phần còn lại là kênh bán hàng truyền thống, các thị trường vùng sâu, vùng xa.
Lâu nay, các DN chủ yếu khai thác thị trường thành thị, là những thị trường lớn, chứ ít đầu tư cho thị trường nông thôn và các chợ truyền thống. Trong khi đây lại là kênh bán hàng giúp DN tăng doanh thu và đẩy mạnh lượng hàng tồn.
Bên cạnh việc đưa hàng vào chợ, ông Mười cũng khuyên nên thành lập các điểm bán “cận chợ”. Chợ tồn tại nhưng sẽ thay đổi theo hướng hiện đại hơn, nên DN phải thay đổi để phù hợp với tình hình thị trường. Bên cạnh các sạp chợ, DN cũng nên đầu tư cho các tiệm tạp hóa - kênh bán hàng sẽ phát triển trong tương lai. 

Liên kết với cửa hàng

Theo bà Ngô Thị Hoàng Mai, Phó giám đốc Công ty CP Thủy hải sản Liên Thành, không có công thức chung cho tất cả các DN. Mỗi DN tùy vào nguồn lực và ngân sách có thể chọn phương thức bán hàng phù hợp.
Cách làm của Liên Thành là kết hợp giữa bán hàng và sản xuất sản phẩm mới. Theo khảo sát của Liên Thành, trước đây, rất ít người tiêu dùng và tiểu thương ở chợ biết đến thương hiệu của công ty.
Muốn tồn tại và phát triển trong điều kiện kinh tế khó khăn, không gì khác hơn là phải tìm mọi cách để người tiêu dùng biết đến. Chính vì vậy, năm 2011, Liên Thành quyết định mở chuỗi cửa hàng giới thiệu sản phẩm để người tiêu dùng tiếp cận sản phẩm.
Bên cạnh đó, Công ty cũng kết hợp với các cửa hàng tạp hóa mở “gian hàng ở cửa tiệm”. Để có hệ thống nhận diện thương hiệu tại các cửa hàng này, Liên Thành chấp nhận chia sẻ chi phí mặt bằng, tăng chiết khấu cho người bán hàng. Hình thức này được đẩy mạnh triển khai với tiêu chí “mở tới đâu quản tới đó”.
Cùng với phát triển hệ thống phân phối riêng, Liên Thành cũng tăng cường đưa hàng đến các chợ truyền thống. Song song với việc mở rộng mạng lưới, Liên Thành còn nghiên cứu đưa ra thị trường những sản phẩm mới. Ba sản phẩm công ty đưa ra gần đây, gồm: nước mắm cốt nhỉ tự nhiên, nước mắm chay và nước mắm bổ sung sắt, đang rất được người tiêu dùng ưa thích.
Bà Hoàng Mai cho biết, nhờ cách làm này mà 6 tháng đầu năm 2012, trong khi rất nhiều DN gặp khó khăn thì Liên Thành vẫn tăng trưởng 10% so với cùng kỳ năm trước. 

Công ty CP Thiết bị nhà bếp Vina (Namilux) cũng đầu tư mạnh cho hệ thống phân phối. Ấp ủ hình thức tạo những “kệ hàng Namilux” trong các cửa hàng từ năm 2009 nhưng mãi đến năm 2011, Công ty mới triển khai. Bỏ ra 5 tỷ đồng, Namilux đã trang bị 1.000 bộ kệ trưng bày hàng cho 1.000 cửa hàng trong cả nước.
Ban đầu, Công ty gặp khó khăn vì nhiều khách hàng cho rằng làm như vậy sẽ chiếm nhiều diện tích, khó vệ sinh. Thế nhưng, sau khi công ty triển khai tại TP.HCM và các tỉnh miền Tây thì số lượng cửa hàng đăng ký được trang bị kệ Namilux vượt nhu cầu của công ty. Doanh số bán hàng tăng nhanh và các sản phẩm mới bán mạnh hơn cả những sản phẩm cũ.
Sau một năm triển khai, ngoài doanh số tăng, mối quan hệ, sự gắn kết của cửa hàng, đại lý với công ty cũng khăng khít hơn. Thành công từ chương trình này, tháng 5 vừa qua, Công ty tiếp tục triển khai 1.000 kệ hàng lần thứ hai.

Mở kênh phân phối mới

Do sản phẩm là hàng thời trang, nên cách đẩy mạnh bán hàng của Công ty Nguyên Tâm (Foci) có khác. Bà Ngô Thị Báu, Tổng giám đốc Công ty, cho biết, cách Foci áp dụng để đối phó với tình hình hàng tồn là phát triển bán hàng trực tuyến. Hình thức kinh doanh này giúp công ty giải quyết được bài toán chi phí mặt bằng - vấn đề gây đau đầu đối với các công ty kinh doanh thời trang.
Cùng với triển khai bán hàng trực tuyến, Foci đẩy mạnh hình thức bán hàng thông qua đại lý; đưa hàng vào các cửa hàng khác bên cạnh hệ thống các cửa hàng riêng của công ty. Nhờ những hình thức này nên năm 2011, dù doanh số bán hàng của công ty giảm từ 30-50% nhưng bù lại, sản phẩm phủ dày hơn.

Ở một góc độ khác, ông Lê Văn Trí, Phó tổng giám đốc Công ty Casumina, cho rằng, trong thời điểm này, mục tiêu ưu tiên hàng đầu của các DN là làm sao để bán được hàng. Muốn vậy, DN phải sản xuất ra sản phẩm có sức cạnh tranh, đồng thời phải tổ chức và điều hành tốt hệ thống phân phối.
Ông Trí hiến kế, các DN nhỏ có thể tận dụng hệ thống sẵn có của DN lớn để bán hàng. Nắm giữ 30% thị phần của thị trường vỏ xe nên công ty ông sẵn sàng hỗ trợ các DN sản xuất, kinh doanh ngành dầu nhớt, ruột xe đưa hàng vào hệ thống phân phối của mình. “Làm như vậy không chỉ tạo cơ hội cho DN nhỏ bán hàng, mà còn tạo nên lợi thế cạnh tranh, sức mạnh tổng lực của các bên liên kết”, ông Trí nói.

Cùng tìm hiểu việc giảm phát ảnh hưởng đến thị trường bán lẻ

Thực tế, lo ngại này không chỉ bây giờ mới đặt ra mà trước đó, giảm phát và đình đốn sản xuất đã là một thực tế được cảnh báo như một nguy cơ cho năm 2012. Theo TS. Vũ Đình Ánh, sức mua giảm sút rõ rệt cho thấy dấu hiệu thiểu phát và “kích cầu” buộc phải làm nếu không muốn nền kinh tế rơi vào cảnh đình trệ kéo dài.
Theo Tổng cục Thống kê, so với tháng 6 năm 2011, CPI tháng 6 năm 2012 tăng 6,9% và so với tháng 12 năm 2011 tăng nhẹ 2,52%. Bình quân 6 tháng đầu năm 2012 tăng 12,2% so với cùng kỳ. Với mức giảm 0,17%, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6 tại Hà Nội xuống thấp nhất trong vòng 10 năm, CPI ở TPHCM cũng giảm mạnh nhất trong 2 năm xuống còn 0,43%. Còn CPI cả nước lần đầu âm sau 38 tháng.
Tuy nhiên, chỉ số CPI giảm ở hai thành phố lớn có thể là biểu hiện của giảm phát, tức sức mua của đại đa số dân cư giảm mạnh. Thực tế cho thấy, trong số 11 nhóm hàng tính chỉ số giá, có 5 nhóm hàng có chỉ số giá giảm trong đó nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống có mức giảm 0,23%.
Các siêu thị báo cáo giảm doanh số -30%, còn tiểu thương thì đóng cửa hàng loạt sạp trong chợ. Việc CPI giảm đánh dấu mốc giảm phát sau nhiều tháng tăng với mức độ thấp chính là hệ quả của sức tiêu dùng suy giảm nghiêm trọng khi chính sách tiền tệ bị thắt chặt để chống lạm phát đã nảy sinh những tác động phụ không mong muốn.
Thực tế, lo ngại này không chỉ bây giờ mới đặt ra mà trước đó, giảm phát và đình đốn sản xuất đã là một thực tế được cảnh báo như một nguy cơ cho năm 2012. Theo TS. Vũ Đình Ánh, sức mua giảm sút rõ rệt cho thấy dấu hiệu thiểu phát và “kích cầu” buộc phải làm nếu không muốn nền kinh tế rơi vào cảnh đình trệ kéo dài.

Từng là thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất toàn cầu năm 2008, nhưng liên tục thụt lùi kể từ 2009 và tới năm nay Việt Nam đã ra khỏi bảng xếp hạng top 30. Con số này càng cho thấy sức mua của dân cư sụt giảm nghiêm trọng làm cho thị trường bán lẻ của Việt Nam kém hấp dẫn.
Theo đánh giá của Bộ Công Thương tính đến quý I năm 2012, doanh thu bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng xã hội năm 2011 tăng trưởng 24% nhưng nếu loại trừ yếu tố giá thì chỉ tăng có 5%. Nếu so với 10 năm trước từ năm 2001 đến năm 2010 bình quân tăng từ 8-11% (đã loại trừ giá) thì mức độ tăng trưởng hiện nay đã có giảm sút.

Việc liên tiếp tụt hạng của thị trường bán lẻ là một “cảnh báo” đối với nền kinh tế. Để lấy lại sức hấp dẫn, cần có sự minh bạch hơn nữa trong chính sách và điều quan trọng là chính sách phải ổn định và trước mắt phải cứu được các doanh nghiệp (DN) bán lẻ.
Giải pháp thời gian qua như gói cứu trợ về chính sách thuế 29.000 tỷ đồng, giảm lãi suất chưa đánh trúng vào khó khăn của DN. Hiện nay, theo đánh giá chung, hàng tồn kho phải giải quyết để DN tiếp tục quay vòng vốn sản xuất thông qua miễn thuế GTGT chứ không chỉ là hoãn. 

Bởi giảm giá bán rất quan trọng, nó có thể thúc đẩy được phần nào tiêu thụ. Nếu thuế GTGT chỉ giãn ra thì 4-5 tháng sau cũng không thể giảm giá bán được.
Đồng thời, ngân hàng phải lấy hàng tồn kho đó làm tài sản thế chấp cho DN vay tiếp, giúp họ có đầu ra thì mới tiếp tục sản xuất, và tạo điều kiện sản xuất với chi phí rẻ hơn song song với việc kéo lãi vay xuống thấp hơn nữa.
Ngoài biện pháp giảm lãi suất, cần khơi thông bế tắc để DN được tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng. Một khi nguồn vốn được khơi thông, tín dụng tăng lên, người dân có tiền mua hàng, sức mua được kéo theo, giải tỏa được hàng tồn kho, DN tiêu thụ được hàng hóa và sản xuất sẽ khôi phục.